Đề thi HSG môn Ngữ Văn 9 - Lần 4 - Năm học 2023-2024 - Trường TH&THCS Hồng Phương (Có đáp án)
Bạn đang xem tài liệu "Đề thi HSG môn Ngữ Văn 9 - Lần 4 - Năm học 2023-2024 - Trường TH&THCS Hồng Phương (Có đáp án)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
de_thi_hsg_mon_ngu_van_9_lan_4_nam_hoc_2023_2024_truong_thth.doc
Nội dung tài liệu: Đề thi HSG môn Ngữ Văn 9 - Lần 4 - Năm học 2023-2024 - Trường TH&THCS Hồng Phương (Có đáp án)
- PHÒNG GD&ĐT YÊN LẠC KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI LỚP 9 LẦN 4 TRƯỜNG TH&THCS HỒNG PHƯƠNG NĂM HỌC 2023-2024 ĐỀ THI MÔN: NGỮ VĂN Thời gian làm bài: 150 phút (không kể thời gian giao đề) Câu 1 (4,0 điểm) Xác định và phân tích tác dụng của những biện pháp tu từ trong đoạn thơ sau: Đồng chiêm phả nắng lên không, Cánh cò dẫn gió qua thung lúa vàng. Gió nâng tiếng hát chói chang, Long lanh lưỡi hái liếm ngang chân trời. (Trích Tiếng hát mùa gặt - Nguyễn Duy) Câu 2 (6,0 điểm) ...Nếu tất cả đường đời đều trơn láng Chắc gì ta đã nhận được ra ta? Ai trong đời cũng có thể tiến xa Nếu có thể tự mình đứng dậy Hạnh phúc cũng như bầu trời này vậy Đâu chỉ để dành cho một riêng ai. (Tự sự - Nguyễn Quang Hưng) Suy nghĩ của em về bài học cuộc sống được rút ra từ khổ thơ trên. Câu 3 (10 điểm) Có ý kiến cho rằng: Hình tượng văn học không chỉ là một thế giới sống mà còn là một thế giới biết nói. Từ cảm nhận về hình tượng thiên nhiên trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích, trích Truyện Kiều của Nguyễn Du, em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên. -------------HẾT------------ Cán bộ coi thi không giải thích gì thêm. Họ tên thí sinh......................................................................SBD:.................phòng thi.............
- PHÒNG GD&ĐT YÊN LẠC KỲ THI CHỌN HỌC SINH GIỎI LỚP 9 LẦN 4 TRƯỜNG TH&THCS HỒNG PHƯƠNG NĂM HỌC 2023-2024 ĐỀ THI MÔN: NGỮ VĂN Thời gian làm bài: 150 phút (không kể thời gian giao đề) I. Hướng dẫn chung: - Giám khảo cần nắm được nội dung trình bày trong bài làm của thí sinh, tránh đếm ý cho điểm. Vận dụng linh hoạt hướng dẫn chấm, sử dụng nhiều mức điểm một cách hợp lí, khuyến khích những bài viết có cảm xúc, sáng tạo. - Học sinh có thể làm bài theo nhiều cách nhưng nếu đáp ứng những yêu cầu cơ bản của đề, diễn đạt tốt vẫn cho điểm tối đa. - Điểm bài thi làm tròn đến 0,25 điểm. II. Đáp án và biểu điểm: Câu 1(4,0 điểm): Ý Nội dung Điểm 1 - Nhân hóa: Đồng chiêm phả nắng; cánh cò dẫn gió; gió nâng tiếng hát; 1,0 lưỡi hái liếm ngang. - Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác: Tiếng hát chói chang - Đảo trật tự từ: Long lanh lưỡi hái - Nói quá: Long lanh lưỡi hái liếm ngang chân trời 2 * Phân tích tác dụng: - Các biện pháp tu từ trên kết hợp với cách sử dụng nhiều hình ảnh đẹp với 2,0 màu sắc tươi tắn rực rỡ, với cách sử dụng nhiều động từ độc đáo, nhà thơ đã khắc họa bức tranh về mùa vàng bội thu. - Trong bức tranh đó có thiên nhiên rộng lớn, khoáng đạt, có niềm vui, sự lạc quan, hăng say của người lao động. - Thiên nhiên và con người hòa quyện với nhau; tầm vóc con người lao động lớn lao ngang tầm vũ trụ. => Bức tranh đã thể hiện được niềm vui rộn ràng của người nông dân trước 1,0 vụ mùa bội thu; đồng thời người đọc cũng cảm nhận được tâm hồn tinh tế, yêu thiên nhiên sâu sắc của nhà thơ Nguyễn Duy Câu 2 (6,0 điểm): a. Về kĩ năng: - Biết cách làm bài văn nghị luận xã hội; bố cục rõ ràng, lập luận chặt chẽ, vận dụng tốt các thao tác lập luận, dẫn chứng tiêu biểu, chọn lọc. - Bài viết trong sáng, mạch lạc, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp. b. Về kiến thức: - Học sinh có thể bày tỏ những suy nghĩ khác nhau, nhưng cần đảm bảo các ý cơ bản sau: Ý Nội dung Điểm 1 Giải thích ý nghĩa của đoạn thơ: 1,0 - Từ những từ ngữ, hình ảnh quen thuộc để gợi lên ý nghĩa ẩn dụ: 0,75 + Đường đời trơn láng: cuộc sống phẳng lặng, bình yên, không có trở ngại, không gặp khó khăn, thử thách. + Tự mình đứng dậy: vượt qua những khó khăn, thử thách trong cuộc đời. + Hạnh phúc: niềm vui, sự hài lòng, thoả mãn... Hạnh phúc là điều mà ai ai cũng mong có được. + Bầu trời: khoảng không gian rộng lớn, mênh mông, không thuộc về bất cứ một cá nhân nào.
- => Đoạn thơ nêu lên một triết lí trong cuộc sống: Khó khăn, thử thách trong cuộc sống chính là sự rèn luyện bản thân. Nếu biết nỗ lực vượt qua thử thách 0,25 đó, con người sẽ có được hạnh phúc. 2 Bàn luận, chứng minh 4,0 * Tại sao nói khó khăn, thử thách trong cuộc sống chính là sự rèn luyện bản thân? 1,5 - Cuộc sống muôn màu muôn vẻ và trong cuộc đời mình, không ai là không bao giờ gặp khó khăn, thử thách. - Khi gặp khó khăn, nếu con người chỉ biết than thân, trách phận, oán thán cuộc đời hoặc chờ đợi sự giúp đỡ của người khác thì họ sẽ không thể vượt qua thử thách một cách thực sự. - Cần phải tự mình nỗ lực để vượt qua khó khăn thử thách trong cuộc sống. * Nếu biết nỗ lực vượt qua khó khăn, thử thách thì sẽ thế nào? - Những khó khăn, thử thách sẽ mang lại cho chúng ta niềm vui, niềm hạnh phúc, đem lại những bài học, những kinh nghiệm hữu ích, giúp ta trưởng 1,5 thành. - Nếu biết nỗ lực vươn lên, vượt qua những khó khăn thì sẽ đạt được thành công, rèn luyện được cho bản thân bản lĩnh vững vàng, ý chí kiên định, nghị lực phi thường - Khẳng định được giá trị của bản thân, vị thế trong xã hội. * Để vượt qua khó khăn, thử thách chúng ta cần làm gì? - Cần có bản lĩnh đối mặt với khó khăn, thử thách trong cuộc sống. - Biết nỗ lực hết mình để vượt qua khó khăn, thử thách đó. 1,0 - Tự tin, kiên trì, bền bỉ, không sợ khó khăn, chấp nhận khó khăn, thử thách trong cuộc sống. - Chúng ta cần dựa vào chính mình để vượt qua khó khăn, nhưng nếu có sự giúp đỡ của người khác thì sự nỗ lực đó sẽ đạt hiệu quả cao hơn. (HS lấy dẫn chứng phù hợp minh họa cho các ý trên) 3 Mở rộng, nâng cao vấn đề 1,0 - Đoạn thơ là một triết lí sống sâu sắc, đúng đắn, có ý nghĩa, nhắc nhở mỗi người cần phải biết phấn đấu, tự lập và nỗ lực hết mình trong cuộc sống để giành lấy hạnh phúc cho bản thân mình. - Không chỉ tự mình vươn lên, mọi người cần có sự giúp đỡ người khác khi họ gặp khó khăn, trở ngại. Đó có thể là sự giúp đỡ về vật chất và tinh thần. - Nỗ lực, phấn đấu hết mình để vượt qua khó khăn thử thách nhưng không có nghĩa là bất chấp tất cả để đạt được mục đích. - Phê phán những con người hèn nhát, không dám đối mặt với hoàn cảnh, gặp khó khăn là đầu hàng. Câu 3 (10,0 điểm) a. Về kĩ năng: - Biết cách làm bài văn nghị luận văn học, bố cục rõ ràng, vận dụng tốt các thao tác lập luận. - Biết cách phân tích dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề nghị luận. - Bài viết mạch lạc, trong sáng, có cảm xúc, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp. b. Về kiến thức: - Học sinh phải hiểu đúng nhận định, có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng cần đảm bảo những ý cơ bản sau: Ý Nội dung Điểm 1. Mở - Giới thiệu tác giả Nguyễn Du và đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích. bài - Giới thiệu vấn đề cần nghị luận. 1,0 - Trích dẫn nhận định. 2.1. Giải thích * Giải thích:
- 2. - Hình tượng văn học: là các khách thể đời sống được nghệ sĩ tái hiện bằng 1,5 Thân tưởng tượng sáng tạo trong những tác phẩm nghệ thuật. Hình tượng nghệ bài thuật có thể là một đồ vật, là con người, hay phong cảnh thiên nhiên đa dạng sắc màu, phảng phất tâm trạng của tác giả, của thời đại. - Hình tượng văn học là một thế giới sống: Hình tượng nghệ thuật được người nghệ sĩ sáng tạo nên từ thế giới hiện thực khách quan một cách sống động, cụ thể. Hình tượng nghệ thuật tái hiện đời sống nhưng không sao chép y nguyên mà có chọn lọc, sáng tạo thông qua lăng kính của nhà văn, nhà thơ. - Hình tượng văn học là thế giới biết nói: Người nghệ sĩ sáng tạo hình tượng văn học trong tác phẩm là để nhận thức và cắt nghĩa đời sống, thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình, gửi gắm một lời nhắn nhủ về con người, về cuộc sống. Thông qua hình tượng văn học, người đọc phải suy nghĩ, nhận thức về cuộc sống, con người để lựa chọn cho mình lối sống đúng đắn. Có khi người đọc còn thấy tìm thấy sự đồng điệu với tác giả. => Ý kiến trên đã khẳng định đặc trưng của hình tượng trong tác phẩm văn học: Hình tượng nghệ thuật vừa mang tính khái quát, vừa mang những nét cụ thể, cá biệt, vừa là thước đo giá trị tài năng của nhà văn và là tiêu chí đánh giá giá trị của mỗi giai đoạn, mỗi thời kì văn học, mỗi tác phẩm văn học. - Thiên nhiên trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích không chỉ là thế giới sống mà còn là thế giới biết nói, thông qua hình tượng thiên nhiên, Nguyễn Du muốn gửi gắm những tâm tình. * Bàn luận: 0,5 - Hình tượng văn học trước hết là một thế giới sống động. Bởi mỗi hình tượng bước vào trang văn không phải là sự sao chép những gì đã có ngoài đời sống mà là kết quả của sự nhào nặn, của trí tưởng tượng và tài năng hư cấu của chủ thể sáng tạo. Đúng như Tề Bạch Thạch đã từng nói: Nghệ thuật vừa giống cuộc đời vừa không giống cuộc đời. Nếu hoàn toàn giống cuộc đời thì là nghệ thuật mị đời, nếu hoàn toàn không giống cuộc đời thì là nghệ thuật dối đời. Hình tượng có thể xuất phát từ một nguyên mẫu có thực nhưng nguyên mẫu ấy cũng cần phải được lựa chọn, được tái tạo, được bồi đắp theo ý đồ và tư tưởng của nhà văn. Làm được như thế thì hình tượng nghệ thuật mới trở thành thực thể có sức sống, có linh hồn và tạo được những rung cảm thẩm mĩ trong lòng người tiếp nhận. - Từ “thế giới sống” đầy nhiệm màu ấy, hình tượng có khả năng truyền tải những thông điệp nhân sinh, những triết lí cuộc sống. Hay nói cách khác, hình tượng văn học không phải nằm thẳng đơ trên trang giấy mà cần phải đi ra, đến với cuộc đời, đến với con người và “nói” lên những vấn đề lớn lao, muôn thuở. Những hình tượng văn học có giá trị bao giờ cũng kết tinh trong đó những tình cảm xã hội và lí tưởng thẩm mĩ. Nó hướng bạn đọc tới cái đẹp, cái hoàn thiện và từ đó góp phần làm giàu có cho đời sống tâm hồn bên trong. 2.2. Chứng minh Thí sinh chọn được những chi tiết tiêu biểu trong văn bản Kiều ở lầu Ngưng Bích, phân tích để làm rõ vấn đề. Có nhiều cách viết khác nhau, tuy nhiên trong bài viết, thí sinh phải nêu được: a. Giới thiệu khái quát: - Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích nằm ở phần thứ hai Gia biến và lưu lạc của Truyện Kiều. Gia đình Kiều bị vu oan, cha và em bị bắt, bị đánh đập dã man. Để có tiền chuộc cha và em, nàng chấp nhận bán mình cho Mã Giám 0.5 Sinh nhưng chẳng may bị lừa đảo bán vào lầu xanh của Tú Bà. Kiều rơi vào
- cảnh ngộ bị giam lỏng ở lầu Ngưng Bích trơ trọi giữa bốn bề, xung quanh vắng bóng người, chỉ có thiên nhiên mà thôi. - Chính lúc này, thiên nhiên hiện lên như là một nhân vật chân thực, sống động, một nhân vật thường kín đáo, lặng lẽ nhưng luôn đượm tình người (Hoài Thanh). b. Thiên nhiên trong Kiều ở lầu Ngưng Bích là một thế giới sống, được nhìn qua tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, thấm đượm yêu thương của Nguyễn Du. - Thiên nhiên trong sáu câu thơ đầu là cảnh tượng trước lầu Ngưng Bích 0,5 trong tầm mắt Kiều, mang vẻ đẹp nên thơ, nhưng quá đỗi rộng lớn, trống trải, tạo cảm giác mênh mang, vô tận và lạnh lẽo (Cần phân tích được sự rợn ngợp của không gian qua các hình ảnh “ non xa”, “ trăng gần”, “cát vàng”, “bụi hồng”) - Thiên nhiên trong tám câu thơ cuối là bức tranh thiên nhiên qua cái nhìn 1,0 nhuốm màu tâm trạng của Kiều. Thời gian chung cho cảnh vật là “chiều hôm”, hình ảnh “cửa bể, cánh buồm, ngọn nước mới sa, hoa trôi, nội cỏ, chân mây, mặt đất, gió, sóng” kết hợp với màu sắc “xanh xanh”, âm thanh tiếng sóng “ầm ầm” và không gian xa xa, “chân mây mặt đất” cùng trạng thái trôi “man mác, rầu rầu” Tất cả tạo nên hình bóng thiên nhiên sống động, đượm buồn. => Thiên nhiên không chỉ là cái bình phong, là hình thức để Nguyễn Du ngụ tình, mà thiên nhiên là đối tượng thứ nhất, có vẻ đẹp tự thân, hiện lên chân thực, có hồn, thể hiện tình yêu cái đẹp và tạo vật của thi hào Nguyễn Du. c. Thiên nhiên trong Kiều ở lầu Ngưng Bích còn là thế giới biết nói - tiếng nói thắm đượm tình người. - Nguyễn Du đã miêu tả một thiên nhiên đầy ám ảnh, thấp thỏm, đầy sự vần 1,0 vũ, thảng thốt, rợn ngợp để đồng cảm cùng nàng Kiều bé nhỏ, cô đơn, kinh hoàng, vô vọng trước biển. - Thiên nhiên ở lầu Ngưng Bích trong sáu câu đầu dưới tầm mắt của Kiều không chỉ là bức tranh rộng lớn, bao la, mênh mông, hoang vắng đến rợn người mà còn biểu lộ một tâm trạng rối bời, ngổn ngang trăm mối tơ vò của nàng Kiều: cô đơn, đau đớn, buồn tủi vì vừa trải qua nỗi đau đầu đời do Mã Giám Sinh làm nhục (Phân tích làm rõ cảm giác cô đơn của Kiều. Làm bạn với nàng chỉ có “mây sớm đèn khuya”, không một bóng hình thân thuộc, không một nét thân mật. Nàng rơi vào cảnh cô đơn tuyệt đối trong tâm trạng “bẽ bàng” tủi hổ xót xa, “nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng”, nửa là tâm trạng, nửa là cảnh vật như chia cắt nỗi lòng) - Thiên nhiên ở tám câu cuối còn là nỗi buồn, lo sợ đến hãi hùng của nàng Kiều bởi mỗi hình ảnh thiên nhiên là một ẩn dụ cho tâm trạng, số phận của 1,0 nàng Kiều: “Cánh buồm xa xa” gợi cảnh đời lưu lạc, nỗi nhớ nhà, sự cô đơn, lẻ loi. Cảnh “hoa trôi man mác” gợi tâm trạng số phận vô định, nổi trôi. Cảnh “nội cỏ, chân mây, mặt đất” là sự rộng lớn của thiên nhiên hay còn là tâm trạng bi thương tương lai mờ mịt của nàng. Cảnh “gió cuốn mặt duềnh” là sự hãi hùng về cuộc sống đang đe dọa bao quanh nàng, cũng là tiếng kêu dự báo về quãng đời lưu lạc, tủi nhục, cay cực mà nàng phải trải qua Mỗi hình ảnh thiên nhiên là một ẩn dụ về tâm trạng, số phận nàng Kiều. Đó là thế giới biết nói để Nguyễn Du gửi gắm những tâm tình. d. Xây dựng thiên nhiên thành thế giới sống, thế giới biết nói, Nguyễn Du đã sử dụng những nghệ thuật vô cùng đặc sắc. - Thể thơ lục bát mượt mà, uyển chuyển. 1,0 - Nghệ thuật tả cảnh thông qua bút pháp chấm phá: khung cảnh trước lầu
- Ngưng Bích được điểm xuyết bởi những hình ảnh “Non xa, trăng gần, cồn cát, bụi hồng”. - Bút pháp tả cảnh ngụ tình kết hợp điệp ngữ “buồn trông”, những từ láy vừa gợi hình, gợi thanh, gợi cảm “thấp thoáng, xa xa, man mác, rầu rầu, xanh xanh, ầm ầm”, những hình ảnh vừa tả thực vừa ẩn dụ “cánh buồm, hoa trôi, nội cỏ, chân mây mặt đất, sóng, gió”...đã diễn tả tâm trạng nhân vật, qua đó thấy được tình cảm của nhà thơ. -> Cùng với các hình ảnh thiên nhiên xuất hiện ở những đoạn khác nhau trong Truyện Kiều thì nghệ thuật miêu tả thiên nhiên trong Kiều ở lầu Ngưng Bích đã đưa Nguyễn Du lên bậc thầy về ngôn ngữ tả cảnh và tả cảnh ngụ tình. 2.3. Đánh giá, mở rộng: - Thiên nhiên trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích nói riêng và Truyện 1.0 Kiều nói chung vừa là đối tượng miêu tả vừa là phương tiện biểu hiện tâm trạng, cảm xúc. Nó như lăng kính giúp người đọc soi vào để hiểu hơn về nhân vật. Vì thế, có thể khẳng định rằng hình tượng thiên nhiên không chỉ là “thế giới sống”, mà còn là “thế giới biết nói”. - Qua cách miêu tả thiên nhiên, Nguyễn Du cho thấy một tâm hồn thiết tha yêu sự sống, yêu tạo vật, một linh hồn “mang mang thiên cổ” nhạy cảm, tinh tế và tài hoa khác thường. - Qua đó ta thấy được những yếu tố làm nên sức sống của hình tượng văn học là sự kết tinh của cảm xúc và tư tưởng. Hình tượng văn học sống được trong tác phẩm là do tác giả đã thổi hồn và lấy từ thực tế. - Nhận định đã đặt ra vấn đề cho người cầm bút và người tiếp nhận: + Người cầm bút: sử dụng thiên nhiên như một nét bút pháp đòi hỏi ở người nghệ sĩ phải có tâm hồn thiên nhiên đằm thắm và sự tài hoa, tinh tế của ngòi bút. + Người tiếp nhận: sáng tác của Nguyễn Du đã dạy người đọc cách mở rộng lòng mình với thiên nhiên tạo hóa, với cái đẹp, dạy chúng ta biết sống yêu đời, yêu thiên nhiên. 3. Kết bài: Khái quát lại vấn đề nghị luận và bày tỏ suy nghĩ của bản thân 1,0 Lưu ý: chỉ cho điểm tối đa khi bài viết đạt được cả yêu cầu về kiến thức và kĩ năng song cũng cần linh hoạt với những bài giàu cảm xúc và có tính sáng tạo. Nếu thí sinh sa đà vào phân tích đoạn trích mà không làm nổi bật nội dung nghị luận thì giám khảo chỉ cho tối đa một nửa tổng sổ điểm.

