Sáng kiến kinh nghiệm "1 Số kinh nghiệm dạy học sinh chậm phát triển trí tuệ học hòa nhập trong trường Tiểu học" - Chu Thị Mỵ

doc 15 trang hanhan 05/11/2025 1180
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm "1 Số kinh nghiệm dạy học sinh chậm phát triển trí tuệ học hòa nhập trong trường Tiểu học" - Chu Thị Mỵ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_1_so_kinh_nghiem_day_hoc_sinh_cham_pha.doc

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm "1 Số kinh nghiệm dạy học sinh chậm phát triển trí tuệ học hòa nhập trong trường Tiểu học" - Chu Thị Mỵ

  1. SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ Để có thể hòa nhập vào cuộc sống cộng đồng, mỗi người cần trang bị cho mình những kiến thức, kĩ năng cần thiết phục vụ bản thân và mang lại lợi ích cho xã hội. Đối với những trẻ em bình thường thì việc trang bị cho mình những kiến thức, kĩ năng phục vụ cho cuộc sống sau này là khá dễ dàng nhưng với những trẻ em khuyết tật là vô cùng khó khăn. Dưới góc độ giáo dục, trẻ khuyết tật được hiểu là trẻ có khiếm khuyết về cấu trúc, suy giảm về chức năng cơ thể, thiểu năng về trí tuệ dẫn đến gặp khó khăn nhất định trong các hoạt động tự phục vụ, hoạt động tập thể và hòa nhập cộng đồng đặc biệt là rất khó khăn trong việc theo học chương trình giáo dục phổ thông. Trẻ khuyết tật thường được phân thành các nhóm sau: trẻ khiếm thính, trẻ khiếm thị, trẻ khó khăn về học, trẻ khó khăn về vận động, trẻ khó khăn về ngôn ngữ, trẻ đa tật và trẻ có các dạng khuyết tật khác, trẻ khuyết tật là đối tượng thiệt thòi nhất trong số những trẻ em thiệt thòi vì phần lớn xã hội hầu như không quan tâm đến sự có mặt của các em, thậm chí một số gia đình có con khuyết tật còn mặc cảm, tự ti vì sự có mặt của các em. Phần lớn quan niệm rằng các em không có khả năng làm gì cả nên trẻ em khuyết tật bị loại ra khỏi mọi mặt đời sống, không được quan tâm, không được chăm sóc sức khỏe thỏa đáng, không có bạn bè, không được hưởng các cơ hội học tập. Do không được đến trường nên các em thiếu kiến thức và kỹ năng sống, dẫn đến mất cơ hội việc làm và không hoàn toàn tham gia vào xã hội khi trưởng thành, khó hòa nhập vào cuộc sống cộng đồng. Để chấm dứt tình trạng trên, xã hội cần can thiệp càng sớm càng tốt sự kỳ thị đối với trẻ khuyết tật thông qua hệ thống giáo dục hòa nhập. Giáo dục hòa nhập cho phép mọi trẻ em, khuyết tật cũng như trẻ bình thường, được học tập trong cùng một môi trường, nơi các điều kiện được điều chỉnh cho phù hợp với nhu cầu của trẻ em khuyết tật. Học hòa nhập như vậy sẽ cho phép trẻ em khuyết tật được hòa nhập mọi hoạt động với bạn bè cùng lứa tuổi, được đánh giá theo sự tiến bộ và được thể hiện khả năng của mình trong các hoạt động phù hợp. Hiện nay ở Việt Nam trẻ em khuyết tật chiếm tỉ lệ khá cao, Theo số liệu điều tra sơ bộ, Việt Nam có khoảng gần 5 triệu người khuyết tật, chiếm 5% dân số, trong đó trẻ em dưới 15 tuổi bị khuyết tật chiếm khoảng 27% so với tổng số người khuyết tật, tức là khoảng 1,2 đến 1,5% so với dân số. (Theo Quốc Hùng Trong số gần 1,2 triệu trẻ khuyết tật trong cả nước có tới 46,7% số trẻ chưa học xong Tiểu học. Năm học 2013-2014, chỉ có khoảng 26% số trẻ khuyết tật được đến trường, tập trung chủ yếu ở Tiểu học. Thực hiện quyền về cơ hội giáo dục trẻ khuyết tật, theo Chỉ thị số 01-2006/CT-TTg, ngày 6/1/2006 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ GD&ĐT được giao nhiệm vụ: Biên soạn và
  2. trình Thủ tướng Chính phủ chiến lược và kế hoạch hành động giáo dục trẻ khuyết tật giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng đến năm 2015. Mục tiêu của chiến lược giáo dục trẻ khuyết tật là đến năm 2015 hầu hết trẻ khuyết tật Việt Nam có cơ hội bình đẳng trong tiếp cận một nền giáo dục có chất lượng và được trợ giúp để phát triển tối đa khả năng của mình, tham gia và đóng góp tích cực cho xã hội, trong đó mục tiêu cụ thể là đến năm 2015 bảo đảm cho 70% trẻ khuyết tật được đi học. Để thực hiện được những mục tiêu đó, giáo dục trẻ khuyết tật cần có những giải pháp lớn đó là: xây dựng hệ thống chính sách quốc gia về giáo dục trẻ khuyết tật. Phát triển nguồn nhân lực cho giáo dục trẻ khuyết tật. Phát triển hệ thống hỗ trợ giáo dục trẻ khuyết tật. Nâng cao năng lực quản lý giáo dục trẻ khuyết tật và tăng cường sự phối hợp liên ngành trong chăm sóc và giáo dục trẻ khuyết tật. Giáo dục hòa nhập đã được khuyến khích áp dụng đối với trẻ khuyết tật trên toàn cầu và tại Việt Nam hệ thống giáo dục này cũng đã được quan tâm, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quyết định số 23/2006/QĐ-BGD&ĐT Ban hành qui định về giáo dục hòa nhập cho người tàn tật, khuyết tật. Tại huyện Thanh ba, chương trình giáo dục hòa nhập cũng đã được chú trọng trong nhiều năm, 100% các trường tiểu học trong huyện đã và đang triển khai dạy hòa nhập và đã đem lại hiệu quả rõ nét. Tuy nhiên, hiện nay quá trình triển khai hình thức giáo dục này còn nhiều hạn chế đó là: Cộng đồng chưa nhận thức đầy đủ về vai trò và trách nhiệm của xã hội trong việc giáo dục trẻ khuyết tật và về khả năng phát triển của trẻ khuyết tật khi được giáo dục, trong đó có cả cha mẹ, cán bộ giáo dục và giáo viên của các trường, nhiều bâc phụ huynh học sinh khuyết tật học cho con em mình đến trường với quan niệm là gửi nhà trường trông hộ con chứ không hy vọng con mình học được gì về kiến thức và kỹ năng sống. Nhiều giáo viên còn băn khoăn khi được phân học sinh khuyết tật học hòa nhập tại lớp mình. Cơ sở vật chất cho giáo dục trẻ khuyết tật còn kém về chất lượng và thiếu về số lượng, chủng loại. chưa có những trang thiết bị tối thiểu cần thiết để dạy trẻ khuyết tật như sách giáo khoa và đồ dùng dạy học đặc thù cho từng loại trẻ khuyết tật. Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên dạy trẻ khuyết tật chưa được đào tạo, bồi dưỡng đầy đủ về số lượng và chất lượng để đáp ứng nhu cầu đi học ngày càng tăng của trẻ khuyết tật. Ngân sách Nhà nước giành cho giáo dục, trẻ khuyết tật chưa chính thức và còn quá ít. Từ những thực tế trên và bản thân là một giáo viên đang dạy và chủ nhiệm lớp có học sinh khuyết tật học hòa nhập tôi thấy mỗi giáo viên cần hiểu rõ về vai trò và cần thực sự tâm huyết đối với công tác giáo dục hòa nhập để có thể giúp các em học sinh khuyết tật có cơ hội được học tập, được giao lưu với bạn bè, được giáo dục kỹ năng sống phù hợp để sau này có
  3. thể hòa nhập vào cuộc sống cộng đồng mang lại một tương lai tốt đẹp cho các em và cho toàn xã hội. Vì vậy tôi chọn nghiên cứu sáng kiến kinh nghiệm: “ Một số kinh nghiệm dạy học sinh chậm phát triển trí tuệ học hòa nhập trong trường Tiểu học.” PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Thực trạng của vấn đề: 1.1 Đặc điểm tình hình nhà trường Trong năm học 2014 – 2015 trường có tổng số 20 cán bộ giáo viên, nhân viên trong đó có 16 giáo viên, 2 cán bộ quản lý, 2 nhân viên. Trường có 11 lớp với tổng số 310 học sinh trong đó có 5 em học sinh khuyết tật học hòa nhập tại các khối lớp: Lớp 1C có em Nguyễn Đắc Dũng – Thiểu năng trí tuệ, mắt bị loạn thị Lớp 5A có em Chu Thị Ngọc Chinh - Thiểu năng trí tuệ Lớp 4A có em Nguyễn Mai Phương - Khó khăn về vận động, mắt kém. Lớp 2A có em Nguyễn Văn Thành, em Nguyễn Văn Công - Thiểu năng trí tuệ. Trong 5 em này có 1em: Nguyễn Mai Phương tham gia đánh giá, 4 em còn lại không tham gia đánh giá do thiểu năng trí tuệ nặng. Trong nhiều năm dạy lớp có học sinh khuyết tật học hòa nhập tại Trường Tiểu học Chí Tiên, tôi thấy việc dạy học sinh khuyết tật học hòa nhập của nhà trường có những thuận lợi, khó khăn như sau: 1.2 Thuận lợi: Trường Tiểu học Chí Tiên nơi tôi công tác là trường có phong trào thi đua dạy tốt, học tốt rất sôi nổi. Trong nhiều năm liền đạt tập thể LĐTT cấp huyện và TTLĐ xuất sắc cấp tỉnh. Đội ngũ cán bộ, giáo viên của trường là những giáo viên trẻ, người địa phương rất nhiệt tình tâm huyết với nghề, có tinh thần trách nhiệm cao, thông cảm với nỗi thiệt thòi của các em khuyết tật. Đặc biệt bốn cô giáo được nhà trường phân công dạy lớp có học sinh học hòa nhập đều là những cô giáo có trình độ chuyên môn vững vàng, giàu kinh nghiệm, có tinh thần trách nhiệm, đã được học qua những lớp tập huấn về công tác giáo dục trẻ hòa nhập do Trung tâm Bảo trợ trẻ em khuyết tật huyên Thanh Ba tổ chức. Đồng chí Hiệu trưởng Trường tiểu học Chí Tiên luôn quan tâm tới công tác giáo dục hòa nhập; đã tham gia nhiều các lớp tập huấn về công tác giáo dục trẻ hòa nhập.
  4. Phần lớn các bậc phụ huynh có trẻ khuyết tật đều quan tâm đến việc học tập của con em mình, yên tâm tin tưởng và phấn khởi khi gửi con vào học hòa nhập tại trường. Nhà trường đã làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục trong đó có việc tuyên truyền về lợi ích của công tác giáo dục hòa nhập tới cộng đồng. Do đó đã làm tốt công tác huy động học sinh khuyết tật tới trường. Kết quả đã huy động 100% học sinh khuyết tật ra lớp. 1.3 Khó khăn: Đa số các gia đình có con em học hòa nhập ở Chí Tiên đều sinh sống bằng nghề nông; hoàn cảnh kinh tế khó khăn phần lớn là hộ nghèo nên việc chăm lo cho các em còn hạn chế; một số gia đình trong đó có gia đình em Dũng đôi khi còn ỉ lại cho nhà trường chưa quan tâm đến việc học của con. Việc đưa đón con đến trường học tập của một số phụ huynh còn chểnh mảng các em đi học chưa đều. Đa số học sinh khuyết tật trong trường đều là những em khuyết tật nặng ở các độ tuổi khác nhau dẫn đến việc điều chỉnh nội dung, phương pháp dạy học gặp nhiều khó khăn, chủ yếu là hòa nhập hoạt động. Tâm lí giáo viên lúc đầu còn e ngại nhận học sinh hòa nhập sợ ảnh hưởng đến chất lượng học sinh trong lớp. 2. Các biện pháp vận dụng làm tăng chất lượng giáo dục học sinh hòa nhập: Trong nhiều năm trực tiếp tham gia vào công tác giáo dục học sinh hòa nhập bản thân tôi đã vận dụng những biện pháp để làm tốt công tác giáo dục cho các em học hòa nhập tại lớp mình và đã đem lại hiệu quả thiết thực đó là những biện pháp cụ thể như sau: 2.1. Xác định đối tượng: Ngay từ đầu năm, tôi đã xác định đối tượng khuyết tật học hòa nhập trong lớp mình phụ trách. Đó là khuyết tật gì? Mức độ khuyết tật ra sao? Những mặt nào còn hạn chế và những mặt nào cần giúp đỡ để phát triển năng lực tư duy cho các em. Hoàn Năm Mặt Học sinh Tật Mặt yếu cảnh gia học mạnh đình Thiểu Đọc yếu, phát âm Gia đình 2013- Chu Ngọc Chinh Thích vận năng trí ngọng, hành động bột Mồ côi ở 2014 động tuệ phát, không có ý thức. với bà Thích Thiểu năng trí tuệ, hành Thiểu tham gia động bột phát, không 2014- Nguyễn Đắc Dũng Gia đình 2015 năng trí các hoạt có ý thức. Nhận biết khó khăn tuệ. Loạn động vui các sự vật hiện tượng Hộ nghèo thị chơi cùng chậm. không nghe lời bạn bè. người lớn. hành vi bất
  5. thường. 2. 2 Lập kế hoạch cụ thể: Sau khi đã xác định được đối tượng trẻ khuyết tật học hòa nhập, tôi lập kế hoạch cụ thể cho từng đối tượng học sịnh (có thể 2 học sinh trong lớp tùy từng năm). Sau mỗi tuần, mỗi tháng đều nhận định và có biện pháp bổ sung. * Kế hoạch năm: ( Đối với Em Nguyễn Đắc Dũng) * Mục tiêu đạt được: - Kiến thức, kĩ năng các môn học: Nắm được một số kiến thức, kĩ năng cơ bản trong chương trình học. Đánh vần và đọc được được các tiếng đơn giản. Nhìn viết đúng, được một số từ, tiếng trong bài chính tả. Nhận biết được các chữ số trong phạm vi 20 và thực hiện được các phép tính đơn giản trong phạm vi 10. - Kĩ năng xã hội: hòa nhập với các bạn trong một số hoạt động, Biết giao tiếp, lễ phép với mọi người; có ý thức trong mọi hoạt động. hạn chế những hành vi bất thường * Kế hoạch cụ thể theo tháng như sau: Người Nội dung Phương pháp thực hiện. Tháng ( Hoạt động) giáo Kết quả thực hiện Điều dục chỉnh - Tìm hiểu hoàn cảnh - Liên lạc với gia - GV nắm được hoàn -Giáo viên gia đình trẻ. đình; giáo viên chủ cảnh gia đình, khuyết chủ nhiệm - Xác định trẻ thuộc nhiệm lớp 1, bạn bè tật của trẻ. 8 dạng khuyết tật và mức của trẻ - Trẻ đang còn nhút độ khuyết tật. - Sắp xếp chỗ ngồi, nhát với giáo viên nhóm học tập phù chủ nhiệm mới. hợp. Kiến thức: - Trực quan làm - Bước đầu đầu biết GVCN, - Biết cầm phấn viết mẫu. bắt chước đọc viết Học sinh bảng, biết lấy đúng đồ - Động viên khen - các chữ đơn giản theo trong lớp dùng học tập, Cho trẻ Biên chế vào tổ 1, mẫu khi cô và bạn tập nhận biết và làm xếp ngồi bàn đầu, hướng dẫn. quen với các chữ cái và dãy phải. - Biết bắt chước lấy nhận biết các số đơn - Cử một nhóm bạn và sử dụng đồ dùng giản. nhiệt tình năng nổ học tập. - Tập đọc, viết được giúp đỡ. - Thích tham gia trò 9 một số nguyên âm; phụ - Cho bạn ngoan, chơi cùng các bạn. âm. hiền ngồi cạnh giúp
  6. - Đếm được 1, 2, 3, ...8; đỡ. nhận biết và đọc được số. Kỹ năng xã hội: - Trực quan làm - Học sinh vui vẻ khi GVCN, Học - Biết mạnh dạn nói mẫu. đến lớp và đi học sinh trong chuyện cùng cô giáo và - Tạo cơ hội để em đều, ngồi đúng chỗ, lớp các bạn trong lớp. được nói chuyện biết xếp hàng, hòa Gặp gỡ trao - Hướng dẫn trẻ làm với cô giáo và các đồng với bạn bè. đổi với gia quen với thầy cô giáo bạn Không rụt rè khi nói đình và các bạn học trong - Hướng dẫn trẻ chuyện với cô giáo và lớp. tham gia các hoạt các bạn. động vui chơi cùng - Hay nói, nghịch tự các bạn trong tổ, do trong lớp lớp. - Kết hợp với gia đình dạy em học - Xây dựng vòng tay bè bạn giúp em tiến bộ Phục hồi chức năng: - Hướng dẫn tỉ mỉ - Biết ngồi vào lớp GVCN, - Có ý thức trong giờ cách ngồi để vở, đúng chỗ, không chạy Học sinh học. ngồi ngay ngắn, ra khỏi chỗ, không để trong lớp. không chạy ra khỏi chân lên ghế. Không chỗ, không để chân nói bừa bãi. lên ghế. ........... ........... ........... .............. 10 2.3. Lựa chọn nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp * Xây dựng chương trình theo từng chủ điểm và phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ Chậm phát triển trí tuệ cụ thể là: * Chủ đề Bản thân: - Để Học sinh hòa nhập nhận biết, phân biệt trên - dưới; phải - trái; trước - sau của cơ thể tôi tổ chức cho trẻ tham gia các hoạt động. + Thực hành nhận biết, phân biệt tay phải, tay trái của học sinh.
  7. + Thực hành nhận biết, phân biệt phía trên, phía dưới, trước sau của trẻ. - Dùng các giác quan để nhận biết các đồ vật có dạng hình tròn, hình vuông, hình tam giác, các màu xanh, đỏ vàng; ít - nhiều. Ví dụ: Trò chơi “Chiếc thùng bí mật”. Chuẩn bị: Các khối gỗ có hình (hình tròn, hình vuông, hình chữ nhật, hình tam giác ) Cách chơi: Yêu cầu trẻ cho tay vào thùng lấy một đồ vật, sờ và đoán xem đó là cái gì, nó to hay nhỏ, dạng hình gì? * Chủ đề Gia đình: - Những thứ có một và những thứ có nhiều trong gia đình: Ví dụ: Có một cái tủ lạnh, bốn cái quạt điện. - Những thứ giống và khác nhau về kích thước to nhỏ, dài ngắn, cao thấp, rộng hẹp (so sánh hai đối tượng) - Xác định vị trí đồ vật trong gia đình, so sánh với bản thân: Phía trước, phía sau; bên trái, bên phải; phía trên, phía dưới. - Nhận biết các thành viên trong gia đình: Cho trẻ xem ảnh của gia đình để trẻ nhận biết những thành viên trong gia đình như ông bà, bố mẹ, anh, chị, em: Ai là người lớn nhất? Ai là người nhỏ nhất? Nhà em có mấy người? * Chủ đề Trường lớp: - Tập đếm số cửa sổ của lớp. - Làm quen với đồ dùng đồ chơi có hình dáng, màu sắc, kích thước khác nhau (hình tròn, hình tam giác, hình vuông, hình chữ nhật có kích thước to - nhỏ, màu đỏ - xanh - vàng ) - Phân biệt ít nhiều. * Chủ đề Nghề nghiệp: - Nhận biết gọi tên và tạo nhóm đồ vật theo màu sắc, công dụng, phù hợp với nghề. Cho học sinh chơi trò chơi sắm vai. Nghề bác sĩ thì phải có áo nón, áo màu trắng, có ống nghe, kim tiêm Nghề cắt tóc có kéo, keo xịt, gương, lược Nghề thợ xây có bay, dao, gạch, xi măng * Chủ đề Giao thông: - Phân biệt và so sánh: màu sắc, kích thước (to, nhỏ; dài, ngắn) - Tập đếm và phân loại (đường thuỷ, đường sắt, đường hàng không, đường bộ) - Nhận biết biển số xe: Có mấy chữ số ở mỗi dòng, là số mấy. Đếm bánh xe, cửa xe ô- tô (tranh ô-tô) - Nhận biết hình vuông, tròn, tam giác. Lựa chọn, áp dụng các phương pháp: * Tạo cơ hội cho học sinh hòa nhập được nhắc đi nhắc lại nhiều lần: Sự hình thành mối quan hệ có điều kiện ở học sinh CPTTT rất khó khăn và chậm trễ so với trẻ bình thường. Mặt khác mối liên hệ mới được hình thành lại không bền vững và dễ
  8. bị mất đi, học sinh CPTTT rất khó tiếp thu kiến thức mới và chóng quên những kiến thức đã được hình thành. Nhiệm vụ của giáo viên là phải hình thành được mối liên hệ đó và giữ lại được trong vỏ não, tức là tạo ra được đường mòn trong não bộ bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần. Khi trẻ mới làm quen với kiến thức kĩ năng mới thì thời gian lặp lại là thường xuyên, dần dần giáo viên sẽ giãn cách thời gian để tránh nhàm chán mà vẫn củng cố lại được các kiến thức kĩ năng đó. Tuy nhiên giáo viên cũng cần chú ý đặc điểm riêng của từng trẻ để sử dụng phương pháp này một cách hiệu quả mà không mất thời gian. Ví dụ: Để nhận biết số 6 tôi thường cho trẻ nhắc lại nhiều lần bằng các hoạt động như đếm số lượng hình tương ứng với số 6, nối số 6 với số lượng hình tương ứng, điền số 6 vào ô trống, viết số 6 qua đó giúp trẻ ghi nhớ, khắc sâu hơn về số. * Tăng cường sử dụng đồ dùng dạy học, trò chơi có hiệu quả: Học sinh khuyết tật rất kém khả năng khái quát hóa và trừu tượng hóa. Thường học sinh tư duy những hình ảnh rất cụ thể, vì thế trong giờ dạy toán nhất thiết phải có giáo cụ trực quan như tranh ảnh, mô hình, hình vẽ, sơ đồ hoặc vật thật. Bằng phương pháp này sẽ lôi cuốn sự chú ý của trẻ và giúp trẻ nắm kiến thức một cách tích cực, không thụ động. Điều quan trọng là giáo viên phải biết sử dụng giáo cụ trực quan một cách hợp lý, sinh động thì mới nâng cao hiệu quả của bài dạy. Thực tế chỉ ra rằng, giờ học toán có giáo cụ trực quan sẽ giúp cho học sinh hiểu bài và khắc sâu những kiến thức đã học được giữ lại trong trí nhớ trẻ bền lâu hơn. Ví dụ 1: Em Nguyễn Đắc Dũng rất thích chơi trò chơi buôn bán, tôi đã tổ chức trò chơi “Bán hàng” trong giờ học toán với bài: Nhận biết số 5. Chuẩn bị: Mô hình các con vật, mô hình quả Tổ chức chơi: Đầu tiên cô đóng vai trò là người cửa hàng trưởng, phân công một số học sinh nhanh nhẹn hoạt bát đứng bán ở các quầy hàng. Khi mua hàng người mua phải nói được mình muốn mua cái gì, mua mấy cái. Ví dụ: Bán cho tôi 5 củ cà rốt hay 5 con tôm và người bán phải thực hiện theo yêu cầu của người mua hàng, người mua trả tiền 5 ngàn (5000 đồng), nhận hàng và cám ơn người bán. * Dạy các em quan sát: Nhận thức của các em học sinh Tiểu học là từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng. Quan sát giúp các em gần gũi với sự vật, hiện tượng xung quanh. Trẻ sẽ ghi nhận được hình ảnh qua tri giác nhìn. Bằng tri giác nhìn sẽ làm cho trẻ chú ý, kết hợp với những câu hỏi gợi ý của giáo viên, trẻ sẽ so sánh và rút ra được kết luận về những điều cần biết, như việc hình thành biểu tượng phải - trái; trước - sau trong không gian. Ví dụ 1: Trong bài “Nhận biết bên phải - bên trái, phía trên - phía dưới”. Tôi cho các em quan sát tranh vẽ con mèo nằm trên bàn, con chó đứng dưới bàn, quả chanh để ở bên trái, cái ghế để ở bên phải. Sau khi quan sát các em đã nhận biết được phía trên - phía dưới, bên phải - bên trái. * Tổ chức các hình thức dạy học đa dạng, phù hợp với đối tượng khuyết tật của học sinh lớp mình. Ví dụ: Đối với những em Chu Ngọc Chinh; Nguyễn Đắc Dũng chậm phát
  9. triển trí tuệ. Thì trong giảng dạy giáo viên phải vận dụng hết sức sự linh hoạt, sáng tạo các phương pháp nhằm giúp trẻ dễ hiểu, dễ tiếp thu, dễ nhớ. Sử dụng tốt tranh ảnh, mô hình, hình vẽ cũng như các hoạt động vui chơi giúp trẻ nắm và nhớ kiến thức. * Tăng cường sử dụng phương pháp hợp tác nhóm: Để có thể học được các kỹ năng, các em không cần phải luôn luôn được dạy một thầy một trò mà có thể tham gia vào học trong các nhóm nhỏ. Việc học trong nhóm nhỏ sẽ kích thích khả năng học hỏi thông qua quan sát của trẻ. Khi dạy theo nhóm nhỏ, giáo viên cần phải phân chia thời gian và sự chú ý của mình cho các nhóm. Phương pháp học sinh hướng dẫn lẫn nhau tạo nên những ảnh hưởng tích cực cho cả người dạy và người học. Những trẻ được bạn bè kèm đạt kết quả học tập cao hơn, những em kèm cho bạn mình học cũng nắm chắc nội dung bài học. Ngoài ra, phương pháp này còn giúp học sinh CPTTT có sự tương tác qua với trẻ bình thường trong môi trường giáo dục hòa nhập. Ví dụ 1: Trong bài “Số 8”, tôi tổ chức các hoạt động, trò chơi để các nhóm cùng thảo luận, thi đua với nhau. Chuẩn bị: Các dãy số từ 1 đến 8 và thẻ số. Tổ chức chơi: Tôi gỡ 1, 2 hoặc 3 ô số trong các dãy số, yêu cầu các nhóm tìm các số đã mất và gắn dãy số theo thứ tự từ 1 đến 8. Ví dụ 2: Trò chơi “Hái quả” Chuẩn bị: Một cây, hình quả có các số tứ 1 đến 9. Luật chơi: Học sinh phải hái những quả có mang số 9. Cách chơi: Chia lớp thành hai nhóm, yêu cầu các nhóm xếp thành một hàng dọc, lần lượt từng bạn trong nhóm lên hái quả có mang số 9. Sau thời gian nhóm nào hái được nhiều quả có mang số 9 thì nhóm đó sẽ thắng cuộc. * Tổ chức trò chơi Trò chơi sẽ lôi cuốn các em vào các hoạt động học tập: Thông qua các trò chơi giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách nhẹ nhàng và dễ dàng, đúng với câu nói “học mà chơi, chơi mà học”. Ngoài ra trò chơi trong quá trình học toán có một ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành nhân cách, rèn luyện khả năng tư duy, ngôn ngữ phát triển, xử lý tình huống nhanh chóng và chống mệt mỏi. Ví dụ 1: Trò chơi “Úm ba la ! Cái gì biến mất? Cái gì xuất hiện?” Mục đích: Phát triển khả năng quan sát, ghi nhớ. Chuẩn bị: 3-5 thứ đồ chơi, đồ chơi quen thuộc, một chiếc khăn. Cách chơi: Cô bày các thứ đồ dùng, đồ chơi lên bàn, khuyến khích trẻ gọi tên, đếm số lượng đồ dùng đồ chơi, nêu đặc điểm (màu sắc, hình dạng, kích thước) của chúng. Cô xếp các đồ chơi vào một chiếc rổ có phủ khăn kín, yêu cầu trẻ nhắm mắt lại để cô thêm (hoặc bớt) một thứ đồ chơi. Sau đó cô đọc: “Úm ba la mở mắt ra nào ! rồi cho trẻ đoán xem đồ chơi nào biến mất (hoặc xuất hiện thêm). Cho trẻ gọi tên đồ chơi đó và đếm lại số lượng đồ chơi trong rổ. Ví dụ 2: Trò chơi “Về đúng nhà” Chuẩn bị: Xếp 7 ghế theo hình vòng cung. Luật chơi: Mỗi trẻ chỉ ngồi vào một ghế. Cách chơi: Cho 8 trẻ đứng trước các cái ghế. Cả lớp cùng hát một bài, đến khi gần hết bài hát và nghe hiệu lệnh “về nhà thôi”, trẻ phải tìm nhanh cho mình một cái ghế và ngồi xuống. Trẻ nào không tìm được ghế ngồi là thua cuộc.
  10. Biện pháp này phát huy tính tích cực của trẻ: Nhằm tạo điều kiện phát huy tính tích cực của trẻ giúp trẻ nhớ và khắc sâu các kiến thức đã học. Giáo viên phải tìm những trò chơi giúp trẻ tự tìm tòi khám phá. 2.4 Kết hợp chặt chẽ với phụ huynh: Các em lớn lên trong gia đình, bố mẹ là những người trực tiếp sinh ra và nuôi dạy trẻ, hiểu các em hơn ai hết. Vì vậy, giáo dục trẻ Chậm phát triển trí tuệ cần có sự cộng tác, gần gũi và liên kết với phụ huynh cùng những người thân của các em. Các thành viên trong gia đình có thể thúc đẩy chuyển giao kiến thức các em đã học trên lớp vào cuộc sống thực tế của các em ở gia đình và các môi trường trong cộng đồng. Qua trao đổi, tôi có chia sẻ kinh nghiệm của mình đến với phụ huynh, giúp phụ huynh rèn luyện cho các em cách học toán tốt hơn như: Cung cấp các phương tiện học tập cho trẻ như sách vở, đồ chơi, tài liệu tham khảo. Hướng dẫn phụ huynh biết cách sử dụng đồ chơi có hiệu quả. Dành thời gian để quan tâm, trò chuyện, vui đùa với các em, giúp các em có cảm giác an toàn, tự tin hơn. Học mọi lúc, mọi nơi trong mọi tình huống như trong giờ ăn có thể trò chuyện, đố trẻ. Có mấy người đang ăn cơm? Mấy người dùng đũa? Mấy người dùng thìa? ... Hay trong giờ xem phim có thể hỏi các em: trong phim có những nhân vật nào? Có mấy nhân vật? 2.5 Phát triển các giác quan trong mọi hoạt động nhận thức cho học sinh khuyết tật học hòa nhập: Bồi dưỡng cho các em các năng lực hoạt động trí óc, khả năng tư duy quan sát. Ngoài những bức tranh trong SGK tôi còn làm thêm bộ tranh rời; sinh động bằng bìa cat-tông; nam châm giấy màu; cắt bìa thành những ngôi nhà; bông hoa và các con vật quen thuộc theo nội dung bài học. Bồi dưỡng cho các em các năng lực hoạt động trí óc, khả năng tư duy năng lực điều khiển các cơ bàn tay, cơ ngón tay giúp các em phát triển xúc giác thông qua trò chơi “Đoán xem hình gì?” Ví dụ: Cho học sinh nhắm mắt sờ vào hình tròn học sinh đoán là hình gì? Gọi tên hình hoặc cho học sinh kết lại thành từng đôi theo ý thích. Một học sinh nhắm mắt, một trẻ dùng ngón tay trỏ phải vẽ một hay nhiều hình tròn bất kỳ lên lưng, tay, chân bạn; học sinh nhắm mắt phải đoán là hình gì? Có bao nhiêu hình bạn vừa vẽ? Phát triển thị giác cho học sinh. Ví dụ: Tôi dùng phấn vẽ dưới sân các hình (hình vuông, hình tròn, hình tam giác) và dãy số từ 1 đến 10 ” cho trẻ thời gian quan sát. Sau đó, yêu cầu học sinh đọc lại, hoặc dùng que viết trên đất hình tròn, hình vuông hay các số theo yêu cầu sau đó học sinh đọc lại. 2.6 Xây dựng môi trường thân thiện: Xây dựng mối quan hệ thân thiện với các em: Gần gũi, trò chuyện, thân mật với các em; nhẹ nhàng khuyên bảo khi em có hành vi bất thường. Yêu thương, quan tâm, chăm sóc các em thường xuyên, để các em không cảm thấy bị bỏ rơi và các em cảm thấy tự tin hơn.
  11. Xây dựng vòng tay bạn bè ngay từ đầu năm để tạo ra bầu không khí thân mật, thương yêu giúp đỡ trẻ khuyết tật như: nhóm bạn cùng học ở nhà, nhóm cùng đi học, nhóm học trên lớp, nhóm cùng vui chơi. Kết hợp với các bạn bè đồng nghiệp để theo dõi, giúp đỡ các em như Tổng phụ trách, giáo viên dạy bộ môn. Kết hợp với phụ huynh học sinh để cùng nhau đưa ra biện pháp tối ưu nhất tạo điều kiện cho em sống, học tập tại cộng đồng. Tạo cơ hội học hòa nhập cùng trẻ bình thường và được học tất cả các môn như mọi trẻ khác. Xây dựng tập thể lớp có ý thức trách nhiệm, thái độ đoàn kết thương yêu giúp đỡ bạn bị khuyết tật. Động viên mọi thành viên trong lớp phải có tinh thần trách nhiệm, giúp đỡ lôi cuốn, tạo điều kiện cho các em tham gia vui chơi. Giáo viên cũng như các bạn cùng lớp luôn phải chú ý động viên khuyến khích kịp thời khi trẻ khuyết tật hoàn thành được một nhiệm vụ, công việc đơn giản so với trẻ bình thường khác. 2.7 Rèn luyện kĩ năng sống: Học sinh khuyết tật từ lúc sinh ra đến lúc trưởng thành trải qua rất nhiều giai đoạn phát triển khó khăn. Do các em có những đặc điểm tâm sinh lí không thuận lợi, quá trình nhận thức bị suy giảm làm cho trẻ khó khăn trong việc lĩnh hội các kiến thức cơ bản và vận dụng những kiến thức đó vào cuộc sống. Để giúp các em hòa nhập vào cuộc sống cộng đồng cần dạy và rèn luyện một số kĩ năng đơn giản phù hợp với nhu cầu của của các em. Rèn luyện kĩ năng tự chăm sóc bản thân: Học sinh khuyết tật khi học những kĩ năng tự phục vụ bản thân gặp nhiều khó khăn. Cho nên dạy học sinh khuyết tật các kĩ năng này cần: + Hướng dẫn từng thao tác nhỏ trong mỗi hoạt động. + Cho các em nhìn, quan sát rồi mới thực hiện. + Thực hiện nhiều lần để trẻ nhớ. + Trong quá trình các em thực hiện phải chú ý theo dõi và trợ giúp khi cần thiết. Nếu các em chưa thực hiện được phải hướng dẫn lại rất cụ thể theo từng bước. Ví dụ: Như học xong một môn này chuyển sang môn khác giáo viên cần hướng dẫn các em cất đồ dùng của môn đã học và tự lấy đồ dùng của môn khác. Rèn luyện kĩ năng giao tiếp: Học sinh khuyết tật gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp: các em không hẳn không hiểu hết lời nói, khi truyền đạt thì nói không rõ hoặc nói không hết ý của mình. Sử dụng các câu cũng gặp khó khăn nên người nghe khó hiểu. Vì vậy, cần rèn luyện cho trẻ những kĩ năng trong giao tiếp như: + Kĩ năng lắng nghe. + Kĩ năng nghe hiểu. + Kĩ năng biểu đạt.
  12. Để giao tiếp đạt kết quả cao cần chú ý: Cần tôn trọng nhu cầu của các em; động viên khích lệ và khen ngợi các em; chăm chú lắng nghe khi chuyện trò với các em; lựa chọn cách nói hợp với đặc điểm của các em; kết hợp giữa lời nói và cử chỉ điệu bộ để tạo ra sự hấp dẫn; luôn vui vẻ hòa nhã trong giao tiếp để tạo tâm thế thoải mái cho các em một cách tự nhiên. Rèn kĩ năng thích ứng: Học sinh hòa nhập nhận thức chậm không đầy đủ lại yếu trong nhận xét sự kiện, sự việc, quá trình định hướng điều khiển nên khi chuyển sang môi trường hoàn cảnh mới lạ trẻ gặp nhiều khó khăn để thích ứng. Trong quá trình giáo dục cần rèn luyện cho trẻ: + Làm quen thích nghi với môi trường hoàn cảnh mới. + Luyện cho học sinh có khả năng xác định những đức tính, đạo đức, thái độ theo chuẩn mực của tập thể, của xã hội để phù hợp với lối sống. + Trẻ biết thông cảm với người khác, biết cách đặt mình vào vị trí của người khác; hiểu và coi hoàn cảnh của người khác như của chình mình và tìm ra cách giảm bớt gánh nặng bằng cách chia sẻ với nhau tránh định kiến mặc cảm. + Biết điều chỉnh hành vi, hoạt động phù hợp với quy tắc đạo đức lối sống trong những trường hợp xung đột phải thương lượng là chính. Không nên dùng bạo lực và luôn có lòng tự trọng. 2.8. Đánh giá học sinh khuyết tật học hòa nhập: Phát hiện những điểm tiến bộ hằng ngày của các em để động viên kịp thời, khích lệ và có biểu dương trước lớp, gây hứng thú cho các em tham gia học tập tốt hơn. Tuyệt đối không chê bai, mắng nhiếc trước tập thể khi trẻ sai. 2.9. Làm tốt công tác phối kết hợp với công đồng trong việc đưa đón học sinh học hòa nhập. Trong nhiều năm qua để giúp các em học sinh hòa nhập đến trường đầy đủ tôi đã phối hợp với Đoàn thanh niên, hội phụ nữ khu cư nơi có học sinh khuyết tật học hòa nhập quan tâm động viên; gia đình đưa đón em tới trường đều đặn; tạo điều kiện giúp đỡ gia đình trong việc đưa đón con đến lớp. 3. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm: Sau khi tôi cùng các đồng nghiệp đã thực hiện các biện pháp trên, tôi thấy hầu hết các em khuyết tật học hòa nhập có tiến bộ nhiều về mọi mặt, không còn mặc cảm trước bạn bè, sống cởi mở, hòa đồng hơn. Các em đã tự tin và mạnh dạn hơn; đã tự thể hiện mình qua các hoạt động học tập, vui chơi. Đặc biệt về học tập các em tiến bộ rõ rệt. Cụ thể là: (Một số em học sinh lớp chủ nhiệm) Năm học Họ và tên Tật Tiến bộ Chậm phát triển trí Năm nay học lớp 4: Hành động bước 2013-2014 Chu Ngọc tuệ. Hành động đầu có ý thức hơn. Mạnh dạn hơn
  13. Chinh không có ý thức. trước, thích đi học Tập đọc viết một số chữ đơn giản. Chậm phát triển trí - Bước đầu biết nghe lời cô giáo. 2014-2015 Nguyễn Đắc tuệ. Hành động tự do - Biết tham gia các hoạt động vui Dũng không có ý thức; hay chơi với các bạn; bước đầu có tiến cắn xé đồ dùng Phát bộ, tự tin và có ý thức hơn. âm ngọng; hạy sợ - Bước đầu biết bắt chước bạn học sệt. tập; nhận biết và đọc, viết được một số chữ cái và đánh vần được một số tiếng đơn giản; đọc, viết được các chữ số đơn giản từ 0 đến 10. PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận: * Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm: Trong nhiều năm nghiên cứu, áp dụng những biện pháp giáo dục trên đã mang lại cho tôi những thành công trong công tác giáo dục hòa nhập tại trường. Đem lại niềm vui sự tiến bộ rõ rệt cho trẻ, đã khơi dậy tiềm năng, sự sáng tạo của trẻ, giúp các em có thêm niềm tin, nghị lực để vươn lên trong cuộc sống. Từ việc áp dụng thành công những biện pháp dạy học hòa nhập ở trường Tiểu học đã đem lại cho tôi niềm tin yêu của các em học sinh, sự kính trọng của các bậc phụ huynh và bạn bè đồng nghiệp. * Qua những việc đã nghiên cứu và áp dụng mang lại thành công trong công trong công tác giáo dục hòa nhập tôi nhận định: Nếu mỗi thầy cô giáo chúng ta có lòng tâm huyết với nghề, cùng sẻ chia, thông cảm với các em có hoàn cảnh khó khăn, thực sự yêu nghề, mến trẻ; tích cực học hỏi nghiên cứu chúng ta sẽ có những phương pháp tốt nhất để giúp các em học tập tiến bộ mang lại một tương lai tốt đẹp cho các em sau này. Cần chú trọng đến đồ dùng dạy học vì đó là yếu tố quan trọng nó góp phần làm cho các em nhận thức được dễ dàng hơn. Bởi nhận thức của các em bao giờ cũng đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng. Đặc biệt là đối với trẻ khuyết tật thì đồ dùng trực quan là vô cùng cần thiết. Phương pháp dạy học và hình thức tổ chức dạy học cũng là yếu tố quan trọng tạo nên sự thành công trong yếu tố dạy hòa nhập bởi mỗi em học sinh khuyết tật có đặc điểm và nhận
  14. thức khác nhau cần phải lựa chọn cho mỗi em phương pháp dạy học phù hợp với đặc điểm và nhận thức của từng em. * Từ những thành công thành công trong công trong công tác giáo dục hòa nhập tôi rút ra bài học kinh nghiệm như sau: Để giúp các em dạy học hòa nhập đạt hiệu quả thì theo tôi người giáo viên chủ nhiệm cần: Xác định được đối tượng học sinh khuyết tật, khuyết tật ở mặt nào?. Tìm hiểu được những điểm mạnh và những điểm hạn chế của trẻ; những tâm tư nguyện vọng của trẻ, những khiếm khuyết cần được giúp đỡ của trẻ học hòa nhập học trong lớp mình. Lập kế hoạch cá nhân cụ thể phù hợp cho từng đối tượng trẻ khuyết tật trong lớp mình theo thời gian năm, tháng, tuần. Lựa chọn nội dung dạy học phù hợp với đặc điểm nhận thức của trẻ. Tạo môi trường thân thiện trong nhà trường, gia đình, xã hội và kết hợp các tổ chức trong cộng đồng để giúp đỡ các em ở mọi lúc, mọi nơi. Sử dụng linh hoạt các biện pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp để tạo điều kiện hỗ trợ cho các em được tham gia học tập cùng với bạn bè. Đặc biệt tích cực sử dụng phương pháp dạy học theo nhóm nhằm tạo cơ hội cho các em được học tập cùng các bạn; được các bạn sẻ chia giúp đỡ. Thường xuyên quan tâm tạo cơ hội cho cho các em được nói, được làm, được hoạt động cùng các bạn. Tăng cường thiết kế và sử dụng đồ dùng trực quan để mang lại cho các em những tiết học sinh động. Đặc biệt đối với học sinh học hòa nhập thì điều này là vô cùng cần thiết và không thể thiếu. Giáo dục kĩ năng sống cho các em điều này là cực kì quan trọng nói giúp cho các em biết cách hòa nhập vào cuộc sống biết ứng xử; biết tự tin; vượt qua mọi khó khăn để tự mình vươn lên trong cuộc sống. Điều quan trọng nhất là mỗi người giáo viên chúng ta phải thực sự là người mẹ thứ hai của trẻ; luôn tâm huyết với nghề; phải có chữ “Tâm” của người thầy điều này chắc chắn sẽ mang lại cho chúng ta thành công trong công tác giáo dục hòa nhập. 2. Những ý kiến đề xuất: Để nâng cao chất lượng giáo dục trẻ khuyết tật học hòa nhập trong các nhà trường tôi có một số ý kiến đề xuất như sau: Bộ Giáo dục và Đào tạo: Cần hỗ trợ phương tiện, thiết bị dạy học phù hợp với các loại tật cho học sinh học sinh học hòa nhập tại trường. Nhà nước cần có chính sách động viên kịp thời cho giáo viên trực tiếp dạy học sinh khuyết tật học hòa nhập.
  15. Phòng Giáo dục và đào tạo: Mở thêm các lớp tập huấn về giáo dục hòa nhập cho cộng đồng. Tổ chức giao lưu học hỏi kinh nghiệm giáo dục hòa nhập của những đơn vị điển hình trong và ngoài tỉnh. Nhà trường tạo mọi điều kiện tốt nhất cho cán bộ giáo viên dạy học sinh hòa nhập và giao lưu học hỏi với các đơn vị trong và ngoài huyện. Mời các chuyên gia có kinh nghiệm trong công tác giáo dục hòa nhập về tư vấn giúp đỡ để giáo viên dạy học đạt hiệu quả cao hơn đáp ứng được mục tiêu yêu cầu giáo dục hiện nay. Trên đây là một số kinh nghiệm tôi đã nỗ lực nghiên cứu rất mong được các đồng chí, đồng nghiệp góp ý, bổ sung; kính mong Ban lãnh đạo các cấp xem xét và góp ý để sáng kiến kinh nghiệm của tôi được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn. Chí Tiên, ngày 10 tháng 3 năm 2015 NGƯỜI VIẾT Chu Thị Mỵ Ý KIẾN ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC GIÁO DỤC CẤP TRƯỜNG Hội đồng thẩm định cấp trường thống nhất đánh giá, xếp loại: xuất sắc( 85/100đ) CTHĐ - HIỆU TRƯỞNG ( Đã ký) Ma Thị Vinh Ý KIẾN ĐÁNH GIÁ CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC GIÁO DỤC CẤP HUYỆN ..................................................................................................................................................................................... ..................................................................................................................................................................................... ............................................................................................................................................................................