Sáng kiến kinh nghiệm "1 Số kinh nghiệm dạy học môn Toán Lớp 2 theo mô hình VNEN" - Trần Thị Hương Giang

doc 25 trang hanhan 05/11/2025 1200
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm "1 Số kinh nghiệm dạy học môn Toán Lớp 2 theo mô hình VNEN" - Trần Thị Hương Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_1_so_kinh_nghiem_day_hoc_mon_toan_lop.doc

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm "1 Số kinh nghiệm dạy học môn Toán Lớp 2 theo mô hình VNEN" - Trần Thị Hương Giang

  1. I. ĐẶT VẤN ĐỀ: Bậc tiểu học là bậc học góp phần quan trọng trong việc đặt nền móng cho việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh. Môn Toán cũng như những môn học khác cung cấp những tri thức khoa học ban đầu, những nhận thức về thế giới xung quanh nhằm phát triển năng lực nhận thức, hoạt động tư duy và bồi dưỡng tình cảm đạo đức tốt đẹp của con người. Không những thế môn toán học là môn khoa học tự nhiên có tính lôgíc và tính chính xác cao, nó là chìa khóa mở ra sự phát triển của các bộ môn khoa học khác. Việc dạy – học theo phương pháp hiện hành cũng có mặt tích cực tuy nhiên vẫn chưa phát huy hết vai trò tự chủ, tính tích cực sáng tạo của học sinh. Vì nếu chỉ dạy học như vậy thì việc học tập của học sinh sẽ diễn ra thật đơn điệu, tẻ nhạt và kết quả học tập sẽ không cao. Nó là một trong những nguyên nhân gây ra cản trở việc đào tạo các em thành những con người năng động, tự tin, sáng tạo sẵn sàng thích ứng với những đổi mới diễn ra hàng ngày. Vì thế, việc áp dụng mô hình VNEN vào trường Tiểu học hiện nay sẽ đạt hiệu quả cao hơn và đây là mô hình lấy học sinh làm trung tâm trong các hoạt động dạy học giúp các em tự chiếm lĩnh kiến thức, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Mô hình trường tiểu học kiểu mới giúp học sinh rèn phương pháp tự học, tự giác, tự quản, tự trọng, tự tin, tự đánh giá, tự hợp tác, tự rèn luyện kỹ năng, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho học sinh. Qua một năm học tham gia giảng dạy thí điểm theo mô hình VNEN tại trường Tiểu học Thị trấn Thanh Ba, tôi nhận thấy đây là mô hình đáp ứng đúng theo yêu cầu của giáo dục hiện nay đó là đổi mới phương pháp dạy học “Phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh”. Bản thân mỗi học sinh rất hứng thú và rất thích được học theo mô hình này. Tuy nhiên, trong khi giảng dạy cũng gặp không ít những khó khăn vướng mắc về tài liệu, phân phối 1
  2. chương trình, về phương pháp và hình thức dạy học và cả về nhận thức của cha mẹ học sinh v.v Mặc dù vậy, tôi đã từng bước khắc phục và đạt được những kết quả bước đầu khả quan: HS mạnh dạn, tự tin, linh hoạt, sáng tạo, tích cực hơn trong học tập và tham gia các hoạt động. Không khí học tập trong lớp tự nhiên, nhẹ nhàng, thân thiện. Là giáo viên trực tiếp giảng dạy lớp học theo mô hình VNEN tôi xin mạnh dạn đề xuất “Một số kinh nghiệm dạy học môn Toán Lớp 2 theo mô hình VNEN”. 2
  3. II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ * Phần 1: Thực trạng của vấn đề: 1. Thuận lợi: Trường Tiểu học Thị trấn Thanh Ba là trường đầu tiên của huyện tham gia giảng dạy thí điểm theo mô hình VNEN và được sự quan tâm hỗ trợ rất nhiều của Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Thanh Ba, của chính quyền địa phương và sự tin tưởng của nhân dân. Đặc biệt là sự nỗ lực quyết tâm của tập thể cán bộ giáo viên, công nhân viên trong nhà trường đã khắc phục khó khăn để đi đầu thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Cơ sở vật chất trường lớp tương đối khang trang. Lớp học có đầy đủ hệ thống bóng đèn điện, quạt, cửa sổ, cửa chính cung cấp đủ ánh sáng cho các em học tập. Môi trường học tập sạch sẽ, thân thiện. - Đội ngũ giáo viên tâm huyết, nhiệt tình, hết lòng vì công việc. - 100 % GV được tham gia tập huấn về nội dung, hình thức, phương pháp giảng dạy theo mô hình trường tiểu học mới VNEN. Trong đó có cán bộ quản lý và nhiều giáo viên được tập huấn cấp cụm, tỉnh. - Đa số học sinh chăm ngoan, có ý thức học tập tốt. - Tài liệu học tập được thiết kế theo kiểu “3 trong 1” (dùng cho cả GV, HS và PHHS), nhìn vào tài liệu rất thuận tiện cho cả giáo viên và học sinh trong quá trình dạy và học. Mặt khác, tài liệu học tập cung cấp về được in màu và tranh ảnh rất đẹp nên gây hứng thú học tập của học sinh. - Đa số phụ huynh nhiệt tình, rất quan tâm đến việc học tập của con em mình, mua sắm đầy đủ đồ dùng học tập cho học sinh. Thường xuyên phối kết hợp với giáo viên trong công tác giảng dạy cũng như trang trí lớp. 2. Khó khăn : *Về phía giáo viên: - Đây là mô hình trường học kiểu mới cho nên giáo viên vừa trải nghiệm, vừa rút kinh nghiệm chắc chắn không tránh khỏi bỡ ngỡ, lúng túng với phương 3
  4. pháp giảng dạy mới. - Tuy không soạn bài nhưng giáo viên mất rất nhiều thời gian vào việc chuẩn bị đồ dùng học tập như: phiếu bài tập (cá nhân, nhóm, phiếu thống nhất), thẻ từ, thẻ số .. Và góc học tập môn toán chưa thật sự phong phú, chưa thu hút được học sinh. *Về phía học sinh: - Học sinh mới từ lớp 1 lên nên việc chuyển đổi từ phương pháp truyền thống sang phương pháp học tập tích cực một cách đột ngột các em vẫn còn lúng túng, chưa biết cách tự học cho nên dẫn đến tình trạng khi ngồi học theo nhóm các em không chịu hợp tác làm việc mà chỉ tranh thủ ngồi nói chuyện, làm việc riêng. - Trong học tập, các nhóm trưởng chưa nhanh nhẹn, còn nhút nhát, chưa biết cách điều khiển các bạn học nhóm. - Từ những thực trạng trên, tôi đã đưa ra một số biện pháp sau nhằm khắc phục những tồn tại như sau : * Phần 2: Các biện pháp để giải quyết vấn đề: 1. Người giáo viên phải hiểu đổi mới phương pháp dạy học theo mô hình VNEN là như thế nào? Phương pháp dạy học theo mô hình VNEN là phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm vừa là giá đỡ, vừa là trụ cột chi phối các hoạt động sư phạm trong nhà trường VNEN. Tổ chức lớp học không chỉ phù hợp với phương pháp của VNEN mà còn tạo ra môi trường sư phạm thân thiện, dân chủ, hợp tác giữa các thành viên trong trường và với cộng đồng. Mô hình VNEN sẽ tạo điều kiện cho giáo viên và học sinh phát huy tốt nhất các năng lực cá nhân và giá trị đích thực của các em. Phương pháp dạy học môn toán trong mô hình nhà trường VNEN là tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh, giúp học sinh bước đầu rèn luyện khả năng tự học và hình thành phương pháp học tập, làm việc tích cực, chủ động, sáng tạo. 4
  5. 2. Đổi mới phương pháp dạy của giáo viên: Tuy GV không soạn bài nhưng phải nghiên cứu thật kỹ tài liệu để đổi mới phương pháp dạy học và tại sao chúng ta lại phải nghiên cứu kỹ tài liệu là vì: + Tài liệu hướng dẫn học của mô hình “Trường tiểu học mới” được viết theo hướng tổ chức dạy học thông qua trải nghiệm. Cách viết này không chú trọng trình bày ôm đồm nhiều kiến thức, không dùng nhiều chữ để mô tả sự vật hiện tượng mà thiên về việc mô tả tổ chức các hoạt động độc lập, hoặc nhóm hợp tác, khuyến khích các hoạt động tự học của học sinh. Ngoài ra, tài liệu hướng dẫn học cũng sử dụng nhiều tranh ảnh để phản ánh và minh họa những kiến thức trong các bài học. + Bản chất của tài liệu là một bản thiết kế “3 trong 1” dùng cho HS, PHHS và dùng cho cả GV trong trường Tiểu học thực hiện theo mô hình trường học mới VNEN. Với HS, đây là tài liệu hướng dẫn các em tự học để đạt mục tiêu của từng bài, tiến tới đạt mục tiêu của năm học. Với GV, đây là 5
  6. một bản thiết kế để GV dựa vào đó biết cách tổ chức các hoạt động học tập cho HS, biết cách kiểm tra, biết cách đánh giá kết quả học tập của học sinh, biết tự kiểm soát việc dạy học của chính mình, qua đó giúp HS rèn luyện kỹ năng thực hành phát hiện và giải quyết vấn đề. Với PHHS giúp con em mình thực hiện phần Hoạt động ứng dụng. + Hình thức tổ chức dạy học khá đa dạng: hình thức học cá nhân , hình thức học theo cặp , hình thức học theo nhóm , hình thức tất cả HS học cùng với GV , hình thức cá nhân học với cộng đồng . Mỗi hình thức này được thể hiện rất rõ bằng những logô trước mỗi hoạt động của bài. Tuy nhiên, khi thực hiện giáo viên cần căn cứ vào đặc điểm, trình độ của HS, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng lớp từng trường để chủ động lựa chọn nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, chủ động điều chỉnh, thay thế hoặc bổ sung những bài tập hoặc những hoạt động sát với thực tế đời sống, phù hợp với truyền thống văn hóa của cộng đồng dân cư nơi HS đang sinh sống, phù hợp với đặc điểm và trình độ HS trong lớp học của mình sao cho đảm bảo dạy học theo đúng mục tiêu, chuẩn kiến thức kỹ năng đã xác định. Đảm bảo những yêu cầu tối thiểu cần đạt sau mỗi giai đoạn học tập. Mô hình trường học kiểu mới được chuyển đổi từ hoạt động dạy của giáo viên sang hoạt động học của học sinh, giúp học sinh phát huy tối đa phương pháp học nhóm. HS tự học, tự chiếm lĩnh kiến thức, tự giúp đỡ lẫn nhau trong học tập và giáo viên chỉ là người hướng dẫn, hỗ trợ khi cần thiết. Trong một tiết học, làm thế nào để biết được mức độ nắm bài của học sinh? Để giải quyết được câu hỏi này, tôi đã đưa ra 2 cách giải quyết như sau: 6
  7. Cách 1: Giáo viên trực tiếp đến kiểm tra từng học sinh trong nhóm bằng những hệ thống câu hỏi đã chuẩn bị sẵn. Hoặc kiểm tra đánh giá bằng nhận xét qua quan sát việc HS làm cá nhân có hoàn thành từng mục tiêu trong quy trình các bước về nội dung học hay không và tìm biện pháp giải quyết. Ví dụ : Bài 10: Em thực hiện phép tính dạng 49 + 25; 29 + 5 như thế nào? (HDH Toán 2- tập 1A trang 35) Sau khi được trải nghiệm - phân tích- khám phá- rút ra kiến thức mới. Bước đầu HS sẽ nắm được quy trình thực hiện phép cộng có nhớ với số có hai chữ số có hai bước cơ bản như sau: Bước 1: Đặt tính: Chuyển cách đặt phép tính từ hàng ngang sang đặt phép tính theo hàng dọc. Viết các số thẳng cột. Bước 2: Thực hiện phép tính: 9 cộng 5 bằng 14, viết 4 nhớ 1 ; 4 cộng 2 bằng 6, thêm 1 bằng 7, viết 7. Đầu tiên GV quan sát để xem HS có viết đúng thứ tự phép tính cộng hàng dọc hay không ? (Vì đây là nội dung trong quy trình đầu tiên khi dạy phép cộng có nhớ với 2 chữ số). - Kết quả đánh giá bằng nhận xét sẽ có 2 khả năng xảy ra : + Nếu tất cả HS đều làm đúng GV chuyển sang quy trình học tiếp theo, đồng thời thực hiện quá trình kiểm tra, đánh giá tiếp theo. + Nếu có HS không làm đúng, GV tìm hiểu nguyên nhân và cùng học sinh trong cùng nhóm điều chỉnh cách dạy, cách học để giúp đỡ các HS này hoàn thành mục tiêu học trong tiến trình này là phải viết đúng thứ tự phép tính hàng dọc. Đối với những HS làm đúng GV giao nhiệm vụ học tập mới cho các HS này (đây chính là HS được học theo khả năng và sự tiến bộ của bản thân mình). Tiếp theo GV quan sát để xem HS có thực hiện đúng phép cộng có nhớ theo hàng dọc hay không? (Vì đây là nội dung trong quy trình thứ 2 khi dạy học phép cộng có nhớ với số có hai chữ số) - Kết quả đánh giá bằng nhận xét sẽ có hai khả năng xảy ra : 7
  8. + Nếu tất cả HS đều làm đúng thì chúng ta kết thúc quá trình đánh giá và kết thúc quá trình học. + Nếu có HS không làm đúng, GV cũng tìm hiểu nguyên nhân và cùng học sinh trong cùng nhóm điều chỉnh cách dạy, cách học để giúp đỡ các HS này hoàn thành mục tiêu học trong tiến trình này. Chẳng hạn: HS làm sai bước cộng có nhớ (9 + 5) điều đó có nghĩa HS chưa thuộc bảng: “9 cộng với 1 số”. Biết được nguyên nhân, GV có thể giải quyết bằng cách GV trực tiếp hướng dẫn hoặc phân công các bạn trong nhóm đó ôn lại bảng: “9 cộng với 1 số” cho bạn của mình. Còn những HS làm đúng GV giao nhiệm vụ học tập mới cho các HS này (đây chính là HS được học theo khả năng và sự tiến bộ của bản thân mình). Cách 2: Giáo viên kiểm tra gián tiếp thông qua phiếu tự đánh giá của học sinh qua mẫu sau: BẢNG TIẾN ĐỘ CỦA HỌC SINH TRONG NHÓM Môn học : Tên bài : Tên nhóm : Hoạt động Hoạt động Hoạt động Ghi chú Tên cơ bản thực hành ứng dụng 1 2 3 4 5 6 1 2 3 4 5 6 1 2 3 4 5 6 Linh Phương Hiếu Quân Thu Chương 8
  9. + Cách sử dụng bảng tiến độ của học sinh trong nhóm như sau: Mỗi nhóm có một bảng đo tiến độ. HS nào hoàn thành nhiệm vụ xong trước sẽ tự ghi vào bảng theo thứ tự hoàn thành nhiệm vụ của mình. Chẳng hạn, bài tập 1 ở hoạt động thực hành Linh hoàn thành xong trước, Linh viết số 1. Tiếp theo Quân hoàn thành xong sẽ viết số 2. Tương tự như vậy với các hoạt động khác. Nhìn vào bảng đo tiến độ của nhóm, GV sẽ biết được mức độ làm bài, cũng như khả năng nắm bài của HS. Nếu HS làm chậm chưa đánh vào bảng đo tiến độ thì có thể HS chưa hiểu bài, GV sẽ đến ngay em đó quan sát xem em bị hỏng phần nào từ đó hướng dẫn- giúp đỡ HS khi cần thiết. Có thể nhờ sự trợ giúp của nhóm trưởng hoặc các bạn làm xong trước hướng dẫn bạn mình để hoàn thành bài tập theo yêu cầu. Thông thường trong một tiết học toán, giáo viên thường lồng ghép cả hai cách trên để tiết học đạt hiệu quả cao nhất. Ngoài ra, giáo viên phải hiểu và nắm chắc kiểu cấu trúc bài học được khuyến khích sử dụng trong mô hình VNEN, đó là tổ chức dạy học thông qua trải nghiệm, gồm 5 bước như sau: (1) Gợi động cơ, tạo hứng thú (2) Trải nghiệm (3) Phân tích, khám phá, rút ra bài học (4) Thực hành (5) Vận dụng. Để làm tốt 5 bước này, đòi hỏi bản thân người giáo viên phải tự thiết kế, đạo diễn các hoạt động học tập để giúp HS tự phát hiện kiến thức, phân tích kiến thức và sử dụng kiến thức. Chẳng hạn: Bước 1: Tạo hứng thú cho học sinh Muốn không khí lớp học vui tươi, kích thích sự tò mò, khơi dậy hứng thú của học sinh về chủ đề sẽ học thì bản thân mỗi giáo viên phải nghiên cứu thật kỹ tài liệu để lựa chọn hình thức sao cho phù hợp, có thể là: đặt câu hỏi, câu đố vui, kể chuyện, một tình huống, tổ chức trò chơi hoặc sử dụng các hình thức khác .. Ví dụ : Bài 23: Em ôn lại các bảng cộng (HDH Toán 2 – tập 1A trang 82) 9
  10. Trước khi vào tiết học, GV tổ chức HS chơi trò chơi “Truyền điện”. Các em sẽ được ôn lại bảng 6,7,8,9 cộng với một số. (Một bạn nêu 6 + 7 bằng bao nhiêu? rồi chỉ nhanh bạn khác nêu kết quả (13), tương tự với các phép tính khác. Bạn nào nói sai thì sau trò chơi sẽ bị phạt bằng hình thức phù hợp, ) Thông qua trò chơi, HS sẽ cảm thấy trò chơi mà mình vừa được tham gia rất gần gũi với bản thân, không chỉ thế trò chơi còn kích thích tính tò mò, khơi dậy hứng thú trong học tập giúp các em muốn tiếp tục được trải nghiệm kiến thức mới. Ngoài ra, để dạy học theo mô hình VNEN đạt hiệu quả thì GV phải phối kết hợp chặt chẽ với phụ huynh cùng tham gia vào hoạt động giáo dục của nhà trường như: trang trí lớp theo tinh thần VNEN, trong mỗi hoạt động dạy đều có phần dành cho HS học tại cộng đồng (trong tài liệu học tập phần này được gọi là Hoạt động ứng dụng), đó là những hoạt động HS nhờ sự kiểm tra kiến thức đã học hoặc học hỏi ở ông bà, người thân trong gia đình, những người sống cùng thôn xóm để vận dụng những kiến thức, kỹ năng đã học ở trường vào cuộc sống của chính các em. Ví dụ : Bài 8: Bài toán về nhiều hơn. (HDH Toán 2 – tập 1A trang 27) Giáo viên giao bài tập ứng dụng về nhà: 10
  11. Em hãy nói cho bố (hoặc mẹ) nghe: Em mấy tuổi? Em hãy hỏi bố (hoặc mẹ): Anh (chị) của em nhiều hơn em mấy tuổi? (Hoặc em nhiều hơn em của em mấy tuổi?) Em hãy tính tuổi của anh (chi,em) của em. - Cuối cùng nhờ bố (hoặc mẹ) kiểm tra lại bài cho em. Hôm sau, thầy (cô) giáo kiểm tra và ghi nhận kết quả học tập của học sinh. Ngoài ra, bản thân mỗi GV phải có quyển sổ dự kiến kế hoạch dạy học ghi lại những thành công hoặc những khó khăn vướng mắc khi thực hiện các bước dạy học trên lớp. - GV tự học, tự bồi dưỡng, tự chủ, linh hoạt trong phương pháp dạy học. Tích cực tham gia các lớp bồi dưỡng chuyên môn, các hoạt động chuyên đề của tổ của trường để học tập về đổi mới phương pháp dạy học theo tinh thần VNEN. - Trong sinh hoạt tổ chuyên môn kịp thời đưa ra những khó khăn, vướng mắc như: biện pháp để học sinh học nhóm tốt, biện pháp để giúp em nhóm trưởng có thể điều khiển tốt các hoạt động học tập của nhóm, hoặc biện pháp về đổi mới phương pháp dạy học của một hoạt động nào đó ở một bài dạy cụ thể ..trong tổ sẽ cùng nhau thảo luận để tìm ra cách giải quyết tốt nhất. - Thường xuyên tự học hỏi qua sách báo, thông tin đại chúng, qua đồng nghiệp thông qua các tiết học tốt, chuyên đề, thao giảng, tự tìm kiếm những thông tin trên mạng nhằm nâng cao tay nghề, tìm ra phương pháp giảng dạy cho phù hợp với đối tượng học sinh. - Hàng năm, mỗi GV đều đăng kí một định hướng đổi mới trong năm học có thể nhân rộng làm tài liệu tham khảo cho các đồng nghiệp. 3. Đổi mới phương pháp học của học sinh: Mô hình trường tiểu học mới là mô hình dạy học chuyển từ hoạt động dạy của GV sang hoạt động học của học sinh. Thông qua tài liệu, HS tự học, tự giác, tự quản, tự trọng, tự tin tự đánh giá, tự hợp tác tự rèn luyện kỹ năng, vận dụng kiến thức vào thực tiễn và GV chỉ là người định hướng, hướng dẫn 11
  12. HS khi cần thiết. Khác với chương trình hiện hành, HS được thực hiện theo 10 bước học tập. Mỗi HS “trường Tiểu học mới” khi đến trường luôn ý thức được rằng mình phải bắt đầu và kết thúc hoạt động học tập như thế nào mà không cần chờ đến sự nhắc nhở của GV. 10 bước học tập đó là: 12
  13. Ưu điểm của phương pháp học nhóm được phát huy rất rõ nét trong học nhóm theo mô hình VNEN, tất cả HS trong nhóm đều được luân phiên nhau làm nhóm trưởng, hướng dẫn các bạn trong nhóm để điều hành các hoạt động do GV yêu cầu và không có một bất cứ học sinh nào ngoài cuộc, không một học sinh nào ngồi chơi. Về nhà, các em còn được học hỏi, được sự hỗ trợ , cố vấn của gia đình sau mỗi bài học ở trên lớp. Góp phần tích cực vào việc rèn kỹ năng sống, phát triển thêm năng lực học tập của học sinh. 4. Cách chuẩn bị đồ dùng dạy học: Dựa vào tài liệu, dựa vào bài dạy cụ thể và tùy vào trình độ HS của lớp mình, sau khi giáo viên lựa chọn hình thức dạy học phù hợp. Bước tiếp theo phải chuẩn bị đồ dùng dạy học thật chu đáo trước khi đến lớp và sử dụng có hiệu quả các thiết bị dạy học được cung cấp. Vì thực tế khi thực hiện tất cả các hoạt động như trong hướng dẫn học, tôi nhận thấy: Việc chuẩn bị đồ dùng cho học sinh hoạt động hay chơi trò chơi là một việc hết sức khó khăn. Nhiều khi học sinh đến góc học tập để lấy các đồ dùng học tập như trong hướng dẫn học, các em không có đồ dùng để lấy hoặc không lấy đủ đồ dùng, các em đã rất thất vọng và không biết phải làm gì tiếp theo. Để khắc phục những tồn tại trên tôi đã đưa ra một số giải pháp sau: Trường hợp 1: Nếu bài học được thực hiện hoạt động nhóm hay cá nhân như trong tài liệu thì giáo viên phải chuẩn bị phiếu bài tập. Để có được phiếu bài tập, tôi phải chuẩn bị ít nhất trước đó 2 ngày. Trường hợp 2: Đối với trường hợp thay đổi hình thức dạy học nào đó chẳng hạn như: không thảo luận nhóm 2 mà thay vào đó là hình thức trò chơi. Ở tình huống này, giáo viên có thể linh động vào những lúc rảnh rỗi nhờ các em trong ban hội đồng tự quản hoặc nhờ các nhóm trưởng viết giúp cô hoặc làm giúp cô thẻ từ để có đồ dùng phục vụ cho tiết học hôm sau. Trường hợp 3: GV và HS có thể làm thêm, điều chỉnh, bổ sung, thay thế các đồ dùng dạy học, các trò chơi, câu đố, phù hợp với nội dung học tập và 13
  14. điều kiện cơ sở vật chất của lớp học. 5. Xây dựng góc học tập môn Toán: Từ góc học tập, tôi có thể tiếp cận được dễ dàng với các đồ dùng dạy - học và các tài liệu khác nhau. Chính bản thân các em cũng rất vui khi được cùng với cô giáo xây dựng các góc môn học. Để góc học toán trở nên phong phú, gây được niềm say mê đối với học sinh trong việc tổ chức sắp xếp góc học toán cũng như các góc môn học khác và giúp các em khám phá, phát huy sự đam mê làm việc và học tập. Vì thế, trong góc học tập môn toán, tôi cùng với HS chú ý tìm những loại tài liệu sau: Các loại đồ vật dễ kiếm ở địa phương: Những chiếc lá vàng, những viên bi, những viên sỏi đã được rửa sạch, những nắp chai bia, những que tính ..mà giáo viên và học sinh mang đến được trưng bày trong góc môn toán sẽ giúp cho các em tự làm phép cộng có thể là: Phép cộng có tổng bằng 10; 26 + 4; 14
  15. 36 + 4; 9 cộng với một số; 8 cộng với một số; Các em vui thích khi được chiêm ngưỡng những que tính, những viên bi, những hòn sỏi, ống hút nước được xếp thành các phép tính, các dãy số. Tài liệu in ấn: sách, bài báo, bài viết trong tạp chí Toán học tuổi trẻ, tờ rơi, áp phích, tranh minh họa về toán học giúp học sinh tăng cường hiểu biết và mở rộng kiến thức. Các vật phẩm do giáo viên, cộng đồng, học sinh làm ra: hình vẽ, các sản phẩm cắt dán hay sản phẩm thực hành . Đồ dùng được cấp về : thước, compa, êke, bảng tính,... Ngoài ra, tôi luôn quan sát xem học sinh của mình thích học môn toán theo cách nào? Đọc, nghiên cứu từ các tài liệu hay thực hiện các phép tính từ các đồ vật được mang đến từ cộng đồng hay làm tính từ việc trao đổi với bạn trong lớp Em nào có kết quả học tập tốt hơn. Từ đó, giáo viên động viên, thúc đẩy lòng yêu thích công việc mà học sinh đang thực hiện. 6. Một số giải pháp giúp HS làm tốt vai trò của Hội đồng tự quản của lớp. a. Thành lập ban Hội đồng tự quản: 15
  16. Nhà trường thông báo tới GV, HS, PHHS. Lấy ý kiến tư vấn của HS, GV, PHHS. Xây dựng kế hoạch bầu cử hội đồng. Đăng ký danh sách ứng cử, đề cử. Ứng cử viên trình bày đề xuất trước hội đồng. GV, HS tổ chức bầu cử. Chủ tịch và Phó chủ tịch được bầu thành lập các ban của hội đồng. Trong quá trình thành lập Hội đồng tự quản, giáo viên phải tạo cho học sinh có cơ hội được tự tranh cử vào các vị trí Chủ tịch và Phó chủ tịch, đây là một trong những bước phát hiện HS mạnh dạn, dám nói trước đám đông. Sau khi việc đăng kí hoàn tất, các ứng cử viên nên trình bày các đề xuất có liên quan đến những hoạt động mà các em có thể sẽ thực hiện khi trúng cử. Những hứa hẹn này phải khả thi trong vòng 3 tháng thử nghiệm. Việc lựa chọn Chủ tịch và Phó chủ tịch là vô cùng quan trọng, đây chính là những người giúp GV rất nhiều trong việc quản tất cả các hoạt động của lớp cũng như trong tiết học. Muốn làm được điều này, đầu năm học, sau khi nhận danh sách lớp, GV trao đổi ngay với GVCN năm ngoái để tìm hiểu kỹ tình hình học tập của lớp mình như: số lượng học sinh giỏi, HS năng khiếu, học sinh nhanh nhẹn, mạnh dạn, nói to Sau khi tìm hiểu xong, GV phải đặt ra những tiêu chí để lớp lựa chọn các bạn trong ban hội đồng tự quản thật chính xác như: - Phải nhanh nhẹn, năng nỗ. - Mạnh dạn, tự tin. - Có năng khiếu. - Có năng lực học tập tốt. b. Phát huy vai trò của một nhóm trưởng: - Những buổi học đầu tiên, ban tự quản làm việc còn lúng túng, chưa biết cách làm thế nào. Vì vậy, người giáo viên phải là người “làm mẫu” đóng vai trò là một nhóm trưởng chứ không phải vai trò là một người giáo viên. Cụ thể như sau: Ví dụ: Bài 56: Bảng nhân 4 ( HDH Toán lớp 2 – tập 2A trang 17) - (Nói to vừa đủ nghe) Mời các bạn đọc mục tiêu cá nhân (Bạn nào đọc xong thì giơ tay lên) 16
  17. - Mình mời bạn đọc mục tiêu thứ nhất - Mời bạn ..đọc mục tiêu thứ hai. (Sau khi các bạn trong nhóm mình đọc xong thì giơ thẻ hoàn thành lên để GV biết đến kiểm tra). Yêu cầu 1: Chơi trò chơi “Đố bạn”: ôn lại bảng nhân 2, bảng nhân 3. - HD nhóm trưởng làm việc như sau: + Yêu cầu các bạn thảo luận theo nhóm 2: Bạn A với bạn B là một nhóm . + Các nhóm hãy đố bạn đọc bảng nhân, chẳng hạn bảng nhân 2, nghe bạn đọc và sửa lỗi nếu có cho bạn. + Sau khi các nhóm làm xong, nhóm trưởng sẽ hỏi bất kỳ bạn nào trong nhóm mình, các bạn còn lại lắng nghe (sửa sai nếu có). - Hoặc có thể cho nhóm làm tốt làm mẫu thảo luận một hoạt động nào đó và các nhóm còn lại chú ý để học tập theo. GV cũng không quên động viên, tuyên dương kịp thời các nhóm làm tốt . - Muốn đánh giá đúng nhóm nào làm nhanh nhất, giơ thẻ hoàn thành lên trước hay lên sau và để giáo viên kịp thời kiểm tra hay giúp đỡ các nhóm thì vị trí đứng của giáo viên vô cùng quan trọng. Sau một học kỳ thực hiện, tôi nhận thấy vị trí giáo viên đi xung quanh bốn bức tường của lớp là phù hợp nhất vì GV có thể vừa kiểm tra nhóm đó vừa có thể nhìn bao quát được các nhóm khác làm việc và kịp thời đến hỗ trợ khi cần thiết. c. Tổ chức cho HS tham gia các hoạt động quản lí lớp để rèn tính tự tin, mạnh dạn: Giáo viên phải giao việc cụ thể cho từng em trong ban Hội đồng tự quản của lớp như: nhóm khởi động có nhiệm vụ tổ chức khởi động đầu giờ, giữa giờ bằng trò chơi, hát múa, nhóm ôn bài có nhiệm vụ tổ chức để tất cả HS cùng ôn bài trong 10 phút đầu giờ, ban học tập chịu trách nhiệm nhận xét đầu tiết học về phần ứng dụng của lớp được làm ở tiết trước, nhận xét tinh thần học tập - kết quả học tập ở cuối tiết học đó. Hoặc Ban vệ sinh: Đầu giờ và cuối mỗi tiết, mỗi buổi kiểm tra vệ sinh của lớp, nếu không sạch thì kịp thời 17
  18. báo ngay cho nhóm trưởng của nhóm đó giải quyết . Thường xuyên động viên, khuyến khích, khen thưởng sự tham gia của các em trong đó có học sinh nhút nhát vào trong các hoạt động quản lý lớp học bằng một số món quà nhỏ như: cây bút, thước, giẻ lau bảng, quyển vở, báo thiếu nhi... Thông qua đó, rèn cho HS tính mạnh dạn, rèn cho HS kỹ năng thuyết trình, kỹ năng thuyết phục, Bước đầu tập cho HS thực hành gánh vác trách nhiệm trong phạm vi trường. *Phần 3: Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm: Qua một năm học thực hiện, GV và HS từng bước được trải nghiệm, từng bước làm quen với cách dạy và cách học mới này. Tôi nhận thấy việc áp dụng mô hình trường tiểu học kiểu mới vào trong giảng dạy hiện nay thật sự rất hiệu quả. Tiết học diễn ra nhẹ nhàng, giáo viên không còn làm việc nhiều như trước đây nữa. Sự chuẩn bị đồ dùng dạy học của giáo viên đã nhẹ nhàng hơn rất nhiều. Đặc biệt, HS yếu giảm hẳn đó là nhờ sự hợp tác, đoàn kết, giúp đỡ giữa học sinh với học sinh rất cao ở trong nhóm và thể hiện rất rõ trong từng tiết học. Góc học toán phong phú, các em cảm thấy thích thú khi được cô giáo trưng bày những phép tính bằng những đồ vật được mang đến lớp do chính bản thân mình làm đúng, trình bày đẹp. Đối với ban hội đồng tự quản được sự hỗ trợ của GV, được sự tín nhiệm của các bạn trong lớp, các em làm việc rất tốt biết người biết việc, rất có trách nhiệm. Các em trở nên mạnh dạn, tự tin, không còn nhút nhát rụt trè như trước nữa. HS luôn tự giác, tự học, tự quản, tự trọng, tự tin tự đánh giá, tự hợp tác tự rèn luyện kỹ năng, vận dụng kiến thức vào thực tiễn rất tốt. 18
  19. III. KẾT LUẬN Việc giảng dạy theo mô hình trường Tiểu học kiểu mới tuy giáo viên mệt và mất rất nhiều thời gian ở vài tuần đầu vì học sinh chưa quen nhưng khi đã quen với cách học và cách dạy thì sẽ tiết kiệm được thời gian và công sức của giáo viên rất nhiều. Tôi nhận thấy rằng: tất cả trẻ em đều có thể học cách chịu trách nhiệm nếu các em được tạo cơ hội tham gia, được tin tưởng và trao nhiệm vụ. Và chính bản thân mỗi giáo viên phải kiên nhẫn, không nên nóng vội vì học sinh cần có thời gian để hình thành, phát triển các kĩ năng tham gia và những kỹ năng đó chỉ có thể được hình thành, phát triển khi được thực hành và trải nghiệm trong các tình huống thực tiễn. Tôi thật sự thích thú và tâm đắc với phương pháp giảng dạy theo mô hình này. Tôi tin rằng với sự nỗ lực của giáo viên, sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT, của nhà trường, của các ban ngành, đoàn thể chắc chắn mô hình trường Tiểu học kiểu mới sẽ thành công. Trên đây là một số kinh nghiệm của bản thân tôi rút ra từ quá trình giảng dạy đã áp dụng nhằm nâng cao chất lượng và đã đạt hiệu quả cao trong giảng dạy. Song không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong được sự đóng góp ý kiến của cấp trên để tôi có thêm nhiều kinh nghiệm trong dạy học. Tôi xin chân thành cảm ơn ! Thanh Ba, ngày 16 tháng 9 năm 2015 Người viết Trần Thị Hương Giang 20