Sáng kiến kinh nghiệm "1 Số biện pháp giúp học sinh khiếm thính học môn Tiếng Việt" - Đinh Ngân Hà
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm "1 Số biện pháp giúp học sinh khiếm thính học môn Tiếng Việt" - Đinh Ngân Hà", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_1_so_bien_phap_giup_hoc_sinh_khiem_thi.doc
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm "1 Số biện pháp giúp học sinh khiếm thính học môn Tiếng Việt" - Đinh Ngân Hà
- I.ĐẶT VẤN ĐỀ: Giáo dục hòa nhập dựa vào cộng đồng là một giải pháp hữu hiệu đảm bảo cho trẻ khuyết tật quyền được giáo dục, quyền được tham gia mọi hoạt động xã hội của trẻ em. Ở Việt Nam, giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật là mô hình giáo dục tiến bộ nhất và được áp dụng rộng rãi nhất. Giáo dục hòa nhập cho trẻ em mới được thực hiện ở nước ta trong vòng một thập kỷ nay tại một số địa phương, đây là vấn đề còn mới mẻ không chỉ đối với mọi người, mà ngay cả đối với ngành giáo dục. Giáo dục hòa nhập giúp trẻ KT được học ở trường gần nhà nhất, chung chương trình, chung sách giáo khoa, chung một giáo viên và được học với các bạn bình thường. Tuy nhiên mỗi đối tượng trẻ đều có các phương pháp giáo dục khác nhau, trong đó trẻ điếc câm (khiếm thính hoàn toàn) là trường hợp đặc thù. Đối tượng trẻ bị điếc là mất đi hoàn toàn khả năng nghe, do đó trẻ mất đi hẳn một kênh thông tin quan trọng đó là kênh âm thanh thu vào, phát ra. Do trẻ khiếm thính không nghe được nên không thể tiếp nhận thông tin ở bên ngoài vào tai để có thể hòa nhập với cuộc sống xung quanh như trẻ nghe bình thường được đi học, đi chơi và tiếp thu những gì đang diễn ra xung quanh trẻ. Để trẻ có thể học như những trẻ nghe bình thường thì người giáo viên cần cung cấp cho trẻ những vốn từ thông qua cử chỉ điệu bộ, nét mặt, ngôn ngữ cơ thể, ngôn ngữ kí hiệu. Trong quá trình trẻ học gặp rất nhiều khó khăn nhất là về phân môn Tiếng Việt do không có vốn từ, thiếu ngôn ngữ kí hiệu. Do đó cần phải sử dụng thêm kí hiệu ngôn ngữ để tăng thêm vốn từ. Là một giáo viên dạy trẻ khiếm thính học hòa nhập, tôi luôn đặt ra câu hỏi: Vì sao trẻ học rất khó môn Tiếng Việt? Bởi vì không nghe được nên trẻ không có vốn từ, trẻ không tiếp nhận được âm thanh, lời nói, mọi thứ xung quanh trẻ, do hạn chế về nghe nên trẻ gặp rất nhiều khó khăn trong việc học tập môn Tiếng Việt. Khó khăn lớn nhất với trẻ khiếm thính ở Tiểu học là phân môn Tiếng Việt, với bốn yêu cầu: nghe, đọc, nói, viết thì trẻ khiếm thính chỉ 1
- thuận lợi khi nhìn viết. Vậy nghe, đọc, nói thì sao? Nó cần phải được thay thế một cách hoàn hảo để giúp trẻ có được kiến thức trong môn học này. Muốn đạt được điều đó tôi luôn trăn trở, tìm tòi và sáng tạo, để tìm ra những cách thức hay, những phương pháp tốt nhất cho bài giảng của mình giúp trẻ phát triển hết những khả năng vốn có. Với mong muốn được giúp đỡ trẻ khuyết tật nói chung và trẻ khiếm thính nói riêng, tôi đã chọn, nghiên cứu SKKN “Một số biện pháp giúp học sinh khiếm thính học môn Tiếng Việt ” ở trường Tiểu học Thị Trấn Thanh Ba để giúp trẻ tự tin, học tốt hơn môn Tiếng Việt và có thêm vốn từ để học tập cũng như giao tiếp với mọi người. Hy vọng với sáng kiến này sẽ giúp cho học sinh khiếm thính không chỉ ở trường Tiểu học Thị Trấn Thanh Ba mà với tất cả các đối tượng học sinh khiếm thính nếu được áp dụng sẽ có điều kiện tốt để tăng cường khả năng hiểu về ngôn ngữ nói qua đó sẽ học tập tốt hơn. II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỂ Phần 1: Thực trạng của vấn đề a. Thực trạng tại Trường Tiểu học Thị trấn Thanh Ba: Năm học 2013 – 2014 nhà trường có 367 học sinh( Có 8 học sinh khuyết tật học hòa nhập trong số đó có 1em học sinh khiếm thính). Nhìn chung các em học sinh học hòa nhập đã được BGH cũng như các thầy cô giáo quan tâm, xong, để giảng dạy cho các em có bài bản, đi sâu vào nhu cầu của trẻ theo từng dạng tật, giúp các em phát huy được hết khả năng của mình về mọi mặt là khá hạn chế. Do đó hầu hết các em mới chỉ dừng lại ở việc: được tham gia học tập, vui chơi cùng các bạn không bị phân biệt đối xử Đây cũng đã là niềm mơ ước của các em, của gia đình, nhà trường. Tuy nhiên cần phải quan tâm hơn nữa và có phương pháp giảng dạy phù hợp với từng dạng tật để giúp các em phát huy tốt hơn khả năng của mình. b. Khảo sát ban đầu tại lớp 4B trường Tiểu học Thị Trấn Thanh Ba. - Đối tượng khảo sát: Em Nguyễn Văn Mạnh Nghiêm - học sinh lớp 4B; dạng tật: Câm điếc 2
- - Khả năng giao tiếp: Em còn nhút nhát, không tự tin do vậy số lần giao tiếp, nội dung giao tiếp chỉ đạt khoảng 10% so với trẻ bình thường ở mức trung bình. - Khả năng đọc hiểu: Vì khó khăn vốn từ, chưa hiểu từ ngữ dẫn đến em nhìn mặt chữ mà không hiểu nội dung dẫn đến mức độ đọc hiểu so với trẻ bình thường sức học trung bình chỉ đạt khoảng 10% - Hiểu nội dung chính của bài: Em chỉ mô tả được nội dung với độ chính xác khoảng 20%. Bảng khảo sát Thời gian Đọc hiểu so với trẻ Mô tả ý chính nội Mức độ giao tiếp thường học TB dung bài so với trẻ so với trẻ thường thường học TB học TB Đầu năm học Đạt 10% Độ chính xác 20% Đạt 10% 2014 - 2015 Phần 2: Các biện pháp để giải quyết vấn đề Giáo dục hòa nhập giúp cho trẻ được phái triển toàn diện theo 4 mục tiêu giáo dục của UNESCO là: Học để làm người Học để biết Học để làm việc Học để cùng chung sống Như vậy thì song song với việc người giáo viên Tiểu học phải cùng lúc có cả hai phương pháp dạy học, có các kỹ năng đặc thù theo từng đối tượng trẻ, phải đầu tư nhiều về tư duy để điều chỉnh nội dung cho phù hợp với đối tượng trẻ khuyết tật trong lớp của mình. Theo UNESCO khái niệm trẻ khiếm thính (trẻ có tật về thính giác - trẻ điếc) được hiểu là: Trong ngôn ngữ phổ thông, điếc thường được biểu hiện là mất thính giác hoàn toàn, không nghe được chút nào cả; Trong ngành y, điếc có nghĩa là: mất toàn bộ sức nghe; trong Giáo dục hòa nhập, trẻ điếc là trẻ có khó khăn về 3
- nghe và nói hoàn toàn. Trẻ không nghe được nên không thể tiếp nhận thông tin hoặc nắm thông tin không trọn vẹn, không chính xác. Do đó sẽ ảnh hưởng đến việc tiếp nhận thông tin, ảnh hưởng đến việc học tập và giao tiếp xã hội. Các mức độ điếc được phân loại như sau: Mức độ nhẹ 20 – 40 dB (Điếc mức độ I) Mức độ vừa 40 – 70 dB (Điếc mức độ II) Mức độ nặng 70 – 90 dB (Điếc mức độ III) Mức độ sâu trên 90 dB (Điếc mức độ IV) - Khi trẻ bị mất khả năng tiếp nhận thế giới âm thanh, các em phải sống trong môi trường yên lặng, dẫn đến rối loạn các chức năng tâm lý, trẻ trở nên cục cằn, thô lỗ, thiếu tự tin và lúc nào cũng cảm thấy thiếu an toàn khi tiếp xúc với cộng đồng. Đây chình là vấn đề đặt ra cho chúng ta: làm như thế nào để trẻ điếc có thể giao tiếp với cộng đồng? Muốn giải quyết được điều đó, chúng ta cần quan tâm tới các vấn đề sau: *Việc học đọc: Đọc là nền tảng trong việc lĩnh hội tri thức của học sinh. Vì: - Trong tất cả môi trường ta phải đọc. - Đọc là sự hỗ trợ trí nhớ về ngôn ngữ. - Đọc làm tăng lên những tần số của sự dùng ngôn ngữ. - Đọc góp phần vào khả năng khám phá cấu trúc ngôn ngữ. - Đọc mang lại lợi ích khi giao tiếp. - Đọc thường mở mang kiến thức về văn hoá, kích thích sự suy nghĩ, cảm nhận và lắng nghe. - Đọc là phương tiện để phát triển ngôn ngữ. * Những khó khăn của trẻ điếc trong việc học đọc: - Trí nhớ về chuỗi sự kiện ngắn. - Thiếu sự hiểu biết về lời nói, thiếu vốn từ. - Sự tụt hậu của: Từ ngữ, ngữ pháp, nghĩa bóng. - Tiến trình lục tìm chậm. - Chiến lược đọc từng từ. 4
- - Cơ quan phát âm bị hạn chế. - Trẻ đọc có thể hiểu từng từ trong câu nhưng không hiểu ý nghĩa của toàn câu. * - Trình độ đọc hiểu của trẻ khiếm thính theo khảo sát: - Trình độ đọc hiểu của trẻ điếc thấp hơn so với trẻ bình thường cùng trang lứa. - Sau lứa tuổi 10 thì trình độ đọc của trẻ điếc tăng ít hơn 1 mức độ trong vòng 5 năm - Mức độ tiến bộ trung bình của một năm học là 0.2 so với trẻ bình thường. - Khả năng trung bình về đọc hiểu của trẻ điếc được khảo sát 20 tuổi bằng lớp 2,3. Những kết quả này không phản ánh khả năng trí tuệ của từng cá nhân trẻ điếc. Đúng ra đó là kết quả của một số yếu tố ảnh hưởng đến sự lĩnh hội các kỹ năng học Tiếng Việt của học sinh điếc. Dù trẻ điếc có nhiều kinh nghiệm về thế giới xung quanh khi trẻ bắt đầu học đọc, nhưng những kinh nghiệm này thường không được liên kết với ngôn ngữ. Do không có sự liên kết với ngôn ngữ nên trẻ không thể áp dụng những kinh nghiệm đã có trước đây với bài đọc để rút ra ý nghĩa của từng mặt chữ. *Với tất cả các nội dung trên, người giáo viên khi dạy học cho trẻ khiếm thính cần phải có biện pháp cụ thể hóa: Giáo viên cần kết hợp một số đường hướng dạy ngôn ngữ cho trẻ khiếm thính. Đó là: - Đường hướng tự nhiên: Trò chuyện, thông qua giao tiếp môi trường, ngôn ngữ toàn diện, dựa trên kinh nghiệm hoặc khái niệm. - Đường hướng cấu trúc: Trực quan - trực tiếp, diễn giải, luyện tập, hình thức, văn phạm, phân tích. - Đường hướng nghe nói: Tận dụng sức nghe, lời nói, dạy nói, có thể có cử chỉ điệu bộ, dấu tự nhiên, quan sát. - Đường hướng tổng hợp: Điệu bộ - cử chỉ, dấu hiệu tự nhiên, dấu hiệu quy ước, văn phạm, hình miệng, phát âm. - Đường hướng song ngữ: Ngôn ngữ thứ nhất, ngôn ngữ thứ hai. 5
- - Đường hướng thủ ngữ: Điệu bộ - cử chỉ, dấu hiệu tự nhiên, dấu hiệu quy ước, chữ cái ngón tay, dấu hiệu dựa trên ngữ âm học. - Đường hướng dùng lời: Điệu bộ - cử chỉ, dấu hiệu tự nhiên, lời nói. - Đường hướng hỗn hợp: Kiểu kết hợp các đường hướng. * Phương pháp trực quan làm mẫu: Là phương pháp đặc thù cho học sinh khiếm thính. Khi giáo viên dùng hình ảnh hoặc làm mẫu thì học sinh dễ dàng nắm bắt những cử chỉ nét mặt, điệu bộ và kí hiệu (học sinh tiếp nhận qua thị giác). Phương pháp dùng từ (giảng giải, chỉ dẫn...) hướng đến ý thức của trẻ. Đối với trẻ, lời nói cụ thể và có hình ảnh của giáo viên là một trong những phương tiện nhận thức đặc biệt gần gũi, dễ hiểu. * Phương pháp hợp tác nhóm: - Gv có thể cho 2 học sinh thảo luận đọc nhóm đôi, một bạn đọc một bạn kiểm tra bài cho bạn kia và ngược lại. Nếu bạn đọc sai thì bạn kia có thể giúp bạn sửa sai ( hoặc giáo viên sẽ giúp trẻ sửa sai). * Phương pháp đóng vai: - Học sinh được rèn luyện thực hành những kỹ năng ứng xử và bày tỏ thái độ. - Gây hứng thú và chú ý cho học sinh. - Tạo điều kiện làm phát triển óc sáng tạo của học sinh . - Khích lệ sự thay đổi thái độ, hành vi của học sinh theo hướng tích cực. - Có thể thấy ngay tác động và hiệu quả của lời nói hoặc việc làm của các vai diễn. - Gv có thể hướng dẫn học sinh đọc theo vai. Ví dụ: Bài « Thái sư Trần Thủ Độ » (Sách hướng dẫn học Tiếng Việt lớp 5 tập 2A chương trình VNEN trang 24) trong đó có đoạn: - Ngươi có phu nhân xin cho làm chức câu đương, không thể ví như những câu đương khác, vì vậy phải chặt một ngón chân để phân biệt. Người ấy kêu van mãi ông mới tha cho. 6
- Để cho trẻ khiếm thính hiểu việc kêu van, giáo viên cho 2 học sinh đóng vai Trần Thủ Độ và người xin chức câu đương với hình ảnh đang kêu van. Kết hợp với ký hiệu của từ (kêu van) kêu van Để giúp cho học sinh nắm được nội dung của bài học ngoài những phương pháp nêu trên tôi có thêm một số biện pháp sử dụng ngôn ngữ kí hiệu để đọc bài. * Có 2 cách để hướng dẫn học sinh đọc bài bằng ngôn ngữ kí hiệu: Cách 1: Có thể dạy cho học sinh đọc theo ý nghĩa, cấu trúc của Tiếng Việt. Ví dụ: Đọc: Con gái kém gì con trai (Bài 29B sách hướng dẫn học Tiếng Việt tập 2B lớp 5 chương trình VNEN trang 9) 7
- Con gái Ký hiệu con gái Con trai Ký hiệu com trai - Như vậy con gái khác gì con trai thì từ khác gì được thay thế bằng ký hiệu bằng nhau. Con gái Bằng Con trai 8
- + Giải thích từ ngữ cho học sinh: - Gv cho học sinh gạch từ khó. - Gv cho học sinh đọc từ khó bằng ngôn ngữ kí hiệu, sau đó giải thích từ có tranh ảnh minh hoạ cho từ đó. Ví dụ: Bài cánh cam lạc mẹ (Sách hướng dẫn học tiếng việt lớp 5 tập 2A trang 27 chương trình VNEN) Giải nghĩa câu: Chiều nhạt nắng trắng sương Bao gồm tranh minh họa, cử chỉ điệu bộ kèm theo. Bức tranh minh họa cho buổi chiều nhạt nắng Hình vẽ ký hiệu buổi chiều 9
- Ảnh chụp một học sinh làm ký hiệu một ngày đã về chiều Ảnh chụp một học sinh làm ký hiệu mặt trời lặn Cùng kết hợp tranh minh họa và ký hiệu , cử chỉ điệu bộ để giải thích cho trẻ khiếm thính câu: Chiều nhạt nắng trắng sương theo ý hiểu là đã cuối của một ngày và khi mặt trời sắp lặn. Ví dụ: giải nghĩa một số từ ngữ trừu tượng để các em áp dụng vào viết văn như : trùng trùng điệp điệp 10
- Ảnh minh họa (trùng trùng điệp điệp) Ký hiệu (trùng trùng điệp điệp) Giáo viên kết hợp cho em quan sát tranh, quan sát chữ viết trùng trùng điệp điệp và kết hợp làm ngôn ngữ ký hiệu mô phỏng. Ngoài ra có những tiếng, những chữ và những từ phải dùng chữ cái ngón tay để ghép vần kết hợp tranh minh họa dựa trên cơ sở bảng chữ cái ngón tay được thống nhất toàn quốc. Tùy theo các vùng miền có thể điều chỉnh theo một số địa phương nhưng sao cho không sai các ký hiệu giao tiếp thông thường quy chuẩn để người điếc nói chung và trẻ điếc nói riêng có thể giao tiếp ở bất cứ nơi nào. Để hiệu quả đạt cao nhất thì giáo viên phải biết kết hợp các ký hiệu quy chuẩn với các ký hiệu tự phát của học sinh từ khi mới sinh ra, còn ở nhà và bố, mẹ đã giao tiếp với em bằng các ký hiệu riêng mà chỉ những người trong nhà mới hiểu được. Giáo viên phải tìm hiểu kỹ lưỡng cái đó và điều chỉnh dần dần để gây hứng thú học tập cho em. 11
- Dưới đây là bảng chữ cái ngón tay được copy từ cuốn ký hiệu ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ của người điếc Việt Nan 12
- Từ bảng chữ cái trên các em có thể giao tiếp dưới hình thức viết chữ cái ngón tay với nhau giữa trẻ khiếm thính với trẻ bình thường. Vấn đề trong giáo dục hòa nhập là giáo viên, cha mẹ, cộng đồng đều phải biết các cử chỉ điệu bộ và chữ cái ngón tay của người khiếm thính thì mới có thể giúp trẻ khiếm thính hòa nhập với cộng đồng và thuận lợi trong việc học các môn học nói chung và môn Tiếng Việt nói chung. Ví dụ: các danh từ - Tên người: Bác Hồ B A C Thanh sắc H O Dấu mũ Thanh huyền 13
- Kết hợp cho trẻ khuyết tật quan sát một số ảnh Bác Hồ ở các thời điểm khác nhau và hoàn cảnh khác nhau: Chân dung Bác Hồ Bác Hồ với thiếu nhi Bác Hồ ở chiến khu Tất cả những từ ngữ mang tính chất đặc thù riêng, không có ký hiệu cử chỉ riêng thì các em sử dụng chữ cái ngón tay để ghép vần và giáo viên cần có tranh, ảnh hoặc cảnh thật cho em quan sát để trẻ khuyết tật hiểu sâu và có sự liên hệ trong tư duy, từ đó các em có thể sử dụng trong khi viết văn hoặc đọc hiểu. b) Biện pháp thực hiện giải pháp của đề tài: Để trẻ có thể đọc tốt hơn giáo viên cần phải áp dụng mọi biện pháp, hình thức để dạy cho trẻ như sau: - Cho trẻ đọc nhiều sách (những cuốn sách có tranh ảnh minh hoạ, sách thiếu nhi, .) - Cần cung cấp thêm vốn từ cho trẻ (trong khi chơi, khi học, khi trò chuyện giao tiếp ta đều có thể cung cấp vốn từ cho trẻ). - Cho trẻ tự tìm tòi và khám phá trước khi giáo viên giải thích nghĩa của từ (khi trẻ đọc xong những từ đó giáo viên có thể hỏi trẻ và trẻ sẽ suy nghĩ để trả lời). - Cho trẻ lặp lại những từ mà trẻ hay sai. - Cho trẻ luyện tập phát âm và thực hành kí hiệu nhiều. - Những từ trừu tượng mà trẻ không hiểu nên lấy ví dụ thực tế kèm theo hình ảnh giải thích cho trẻ hiểu. 14
- - Giáo viên nên dạy cho trẻ cách dịch nguyên câu, đọc nguyên câu. - Cho trẻ đóng vai, xây dựng tình huống để trẻ giải quyết, giúp trẻ hiểu nghĩa của từ hoặc câu đó (trong bài Tập đọc có vai giáo viên cho các em đóng theo vai các nhân vật trong bài đọc). - Cho trẻ nhận ra lỗi sai và yêu cầu trẻ sửa sai. Ví dụ: Khi trẻ đọc xong giáo viên hỏi trẻ lại từ mà giáo viên thấy nghi ngờ và yêu cầu trẻ đọc lại từ đó. - Khuyến khích trẻ khi trẻ làm tốt. Muốn học sinh nắm bài nhanh và đạt hiệu quả tốt khi sử dụng ngôn ngữ kí hiệu thì người giáo viên cần phải linh hoạt trong quá trình giảng dạy, làm sao thu hút được học sinh tham gia, thay đổi mọi hình thức để cho tiết dạy sinh động và đạt kết quả tốt. Phần 3: Hiệu quả của SKKN: Kết quả khảo sát học sinh trong khoảng thời gian thử nghiệm từ đầu năm học 2013 - 2014 tại lớp 4B trường tiểu học Thị trấn Thanh Ba sau khi thực hiện biện pháp để nâng cao chất lượng tôi thấy kết quả rõ rệt, em Nguyễn Văn Mạnh Nghiêm trong giao tiếp, đọc hiểu và tóm lược nội dung chính của bài đọc. Để đánh giá điều đó, tôi đã sử dụng phép so sánh với một nhóm trẻ có nhận thức ở mức độ trung bình, và qua quan sát cách giao tiếp thì cả vể số lượng và chất lượng giao tiếp của em đều tăng lên rõ rệt, em hoàn toàn chủ động và tự nhiên trong giao tiếp cụ thể như sau: Thời gian Đọc hiểu so với trẻ Mô tả ý chính nội Mức độ giao tiếp thường học TB dung bài so với trẻ so với trẻ thường thường học TB học TB Cuối kỳ I Đạt 50% Độ chính xác 40% Đạt 40% Giữa kỳ II Đạt 60% Độ chính xác 50% Đạt 70% Từ bảng số liệu trên ta thấy được khi sử dụng biện pháp trên đã mang lại hiệu quả khá tốt. Khả năng hiểu của học sinh có sự tiến bộ rõ rệt, khả năng 15
- nắm bắt ngôn ngữ kí hiệu tốt hơn. Học sinh đã nắm bài tốt hơn các em đọc hiểu câu chiếm 50% so với đầu năm khi chưa áp dụng biện pháp. Giáo dục cho trẻ khiếm thính học là một công việc không đơn giản, muốn đạt được những kết quả như mong muốn cần phải có những phương tiện, phương pháp phù hợp và đúng đắn với từng đối tượng học sinh, đặc biệt là sự nỗ lực của học sinh. Bên cạnh đó, giáo viên phải linh hoạt trong quá trình dạy học luôn tìm tòi, sáng tạo làm sao đem lại cho học sinh những giờ học thật thú vị và hấp dẫn, tạo không khí vui tươi thoải mái nhưng mang lại hiệu quả cao. III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ: 1. Kết luận: * Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm: Khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm Một số biện pháp giúp học sinh khiếm thính học môn Tiếng Việt”, khả năng đọc hiểu và nhận thức môn Tiếng Việt của trẻ khuyết tật tiến bộ rất nhiều , em đã yêu môn học hơn, mạnh dạn hơn trong giao tiếp. Khả năng đọc hiểu, tìm nội dung chính và giải nghĩa từ khó cũng như sử dụng từ trong bài văn của trẻ có nhiều tiến bộ. Như vậy có thể khẳng định sáng kiến kinh nghiệm của tôi đã mang lại giá trị nhất định cho trẻ khiếm thính ở nhà trường, hiện được nhà trường tiếp tục ứng dụng vào giảng dạy cho trẻ. * Cách sử dụng sáng kiến kinh nghiệm: - Sáng kiến kinh nghiệm này được áp dụng cho tất cả học sinh của các trường có học sinh khiếms thính học hòa nhập. - Tùy theo tình hình thực tế của từng địa phương, từng trường mà các trường vận dụng một cách linh hoạt sáng kiến kinh nghiệm. - Trong quá trình thực hiện SKKN cần phải thực hiện đúng các quy trình đã nêu thì mới có hiệu quả. - Khi áp dụng SKKN vào lớp học cần phải tranh thủ sự ủng hộ của Ban giám hiệu, cac ban nghành địa phương tạo điều kiện về thời gian cũng như các điều kiện khác. * Đề xuất hướng phát triển tiếp của sáng kiến kinh nghiệm: 16
- Việc giúp học sinh khiếm thính học tốt môn Tiếng Việt là một nhu cầu thiết yếu của xã hội, của nền giáo dục hiện đại. Trong xã hội ngày nay, khi xã hội phát triển ngày càng nhanh nhờ tác động của khoa học- kĩ thuật- công nghệ thì sự phát triển của giáo dục trẻ khuyết tật học hòa nhập ngày càng chiếm vị trí hết sức quan trọng nên việc dạy học sinh khuyết tật phải được tiến hành thường xuyên, liên tục thì mới đạt hiệu quả cao. * Bài học kinh nghiệm: Các biện pháp giáo dục, giảng dạy học sinh khiếm thính học tốt môn Tiếng Việt tạo mối quan hệ thân thiện, cởi mở giữa thầy và trò, giúp học sinh hứng thú tự tin, chủ động sáng tạo trong học tập, nâng cao chất lượng giáo dục. Giảng dạy học sinh khiếm thính học hòa nhập không phải là công việc “ một sớm, một chiều” mà đòi hỏi phải có một quá trình, kiên nhẫn và bằng cả tâm huyết của người thầy ở mọi lúc, mọi nơi trong trường học, thực hiện càng sớm càng tốt đối với trẻ khiếm thính. Vì vậy đòi hỏi người giáo viên phải vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo cho phù hợp với nhu cầu, trình độ của học sinh và đặc điểm, hoàn cảnh của nhà trường, địa phương. Giảng dạy học sinh khiếm thính học hòa nhập không chỉ là công việc của giáo viên, nhà trường mà của cả xã hội, cộng đồng, có như vậy trẻ khuyết tật sẽ không bị thiệt thòi trong môi trường học tập của nhà trường cũng như trong cuộc sống hiện tại của các em 2. Những ý kiến đề xuất: Để thực hiện tốt tiết dạy thông qua việc thực hiện các biện pháp trên đã phần nào đạt được một số kết quả như đã nêu. Bản thân xin có một số kiến nghị sau: * Đối với giáo viên: - Giáo viên hướng dẫn cụ thể từng bước khi học sinh đọc. - Thực hiện tốt công tác chuyên môn, tham mưu để có sự quan tâm, động viên kịp thời và chỉ đạo sâu sát của Ban giám hiệu. - Động viên các em tích cực học tập, khuyến khích động viên học sinh kịp thời. 17
- - Kết hợp chặt chẽ với phụ huynh học sinh để có sự giúp đỡ theo yêu cầu của nhà trường, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức thực hiện. - Giáo viên không ngừng học hỏi, tham khảo tài liệu, tham quan học tập, sáng tạo trong phương pháp giảng dạy. - Luôn tìm tòi sáng tạo, kết hợp linh hoạt các biện pháp, phương pháp, hình thức tổ cho phong phú, lôi cuốn học sinh, phát huy tính sáng tạo, tích cực của học sinh. * Đối với nhà trường: - Cần tạo điều kiện cho giáo viên tham quan học tập ở các đơn vị bạn để trao đổi, học hỏi kinh nghiệm. - Tổ chức cho học sinh toàn trường học ký hiệu của người điếc để em có sân chơi rộng hơn. * Đối với gia đình và cộng đồng: - Kết hợp chặt chẽ với giáo viên và nhà trường. - Quan tâm hỗ trợ đúng mức về mọi mặt cho sự tiến bộ của học sinh. - Gia đình và cộng đồng cùng tham gia học cử chỉ điệu bộ của người điếc để cho em mở rộng môi trường giao tiếp. Trên đây là một số biện pháp thực hiện sáng kiến của tôi, nhằm giúp học sinh khiếm thính học tốt môn Tiếng Việt. Rất mong được sự góp ý của hội đồng khoa học các cấp. Tôi xin trân thành cảm ơn./. Thanh Ba, ngày 10 tháng 3 năm 2015 NGƯỜI TRÌNH BÀY SÁNG KIẾN Đinh Ngân Hà 18
- MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ HOẠT ĐỘNG HỌC CỦA HỌC SINH KHIẾM THÍNH - TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN 19

