Sáng kiến kinh nghiệm "Nâng cao hiệu quả công tác chủ nhiệm lớp thông qua mô hình lớp học hạnh phúc" - Năm học 2023-2024 - Lưu Thị Thu Trà

pdf 17 trang hanhan 07/10/2026 130
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm "Nâng cao hiệu quả công tác chủ nhiệm lớp thông qua mô hình lớp học hạnh phúc" - Năm học 2023-2024 - Lưu Thị Thu Trà", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfsang_kien_kinh_nghiem_nang_cao_hieu_qua_cong_tac_chu_nhiem_l.pdf

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm "Nâng cao hiệu quả công tác chủ nhiệm lớp thông qua mô hình lớp học hạnh phúc" - Năm học 2023-2024 - Lưu Thị Thu Trà

  1. MỤC LỤC Nội dung Trang Phần I: Mở đầu 2 1. Lý do chọn đề tài 2 2. Mục đích đề tài 2 3. Đối tượng hướng đến 3 4. Phương pháp nghiên cứu 3 5. Tên giải pháp 3 6. Lĩnh vực áp dụng 3 7. Thời gian áp dụng 3 Phần II: Nội dung 3 1. Cơ sở lí luận 3 2. Thực trạng nghiên cứu 5 3. Các biện pháp xây dựng lớp học hạnh phúc thông qua công 6 tác chủ nhiệm 4. Những vấn đề đặt ra trong việc xây dựng “lớp học hạnh phúc” 14 Phần III: Đánh giá kết quả đạt được 15 Phần IV: Kết luận và kiến nghị 17
  2. 2 PHẦN I: MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Lấy cảm hứng từ mô hình “Happy School” của UNESCO, mô hình “Trường học hạnh phúc” bắt đầu triển khai thí điểm ở nước ta vào tháng 4/2018 và sau đó nhanh chóng được nhân rộng trong nhiều cơ sở giáo dục đào tạo trên cả nước. Với học sinh, để có được hạnh phúc, trước hết là được sống trong một gia đình hạnh phúc, được sự yêu thương của bố mẹ và người thân. Bên cạnh đó, các em cần được trưởng thành trong một ngôi trường hạnh phúc- nơi các em được học tập, được vui chơi, chia sẻ, được thấu hiểu, yêu thương và tôn trọng. Với giáo viên hạnh phúc là được truyền đạt kiến thức, đào tạo được các thế hệ học trò vừa ngoan, vừa giỏi. Xây dựng trường học hạnh phúc, mỗi trường học đều hướng tới mục tiêu: xây dựng môi trường giáo dục đem đến niềm vui, hạnh phúc cho cả giáo viên và học sinh, thầy cô thân thiện, học sinh tích cực. Khác với lớp học truyền thống, lớp học hạnh phúc không áp đặt phát triển theo khuôn mẫu mà đóng vai trò định hướng để các em được làm những gì mình yêu thích và say mê. Ở đó, các em không học theo kiểu nhồi nhét mà được học những gì có ý nghĩa, được khơi gợi niềm yêu thích để tiếp tục tự tìm hiểu. Từng tiết học được biến hóa thành bài học thú vị qua những trò chơi, trải nghiệm. Để cảm nhận được sự hạnh phúc, các em phải được tích lũy kiến thức thông qua những hoạt động trải nghiệm. Các hoạt động không chỉ nằm trong khuôn khổ lớp học mà còn được tổ chức ngoài khuôn viên trường lớp, giúp các em cảm nhận sâu sắc về thế giới tự nhiên xung quanh. Câu hỏi lớn đặt ra lúc này là: Làm thế nào để xây dựng được một lớp học hạnh phúc, mỗi ngày học sinh đến trường là một ngày vui, giáo viên đến trường mỗi ngày là một niềm hạnh phúc, quan hệ thầy trò là động lực để học sinh vươn tới tri thức? Theo tôi, xây dựng trường học hạnh phúc là việc làm cấp thiết cần được các nhà giáo dục quan tâm lúc này. Muốn vậy, chúng ta cần xây dựng hạnh phúc từ chính lớp học của mình. Hiện tại rất ít tài liệu bàn sâu và đưa ra các giải pháp cho vấn đề này, đồng nghiệp, nhà trường chưa có kinh nghiệm nhiều để giải quyết, khắc phục. Chính vì vậy tôi chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả công tác chủ nhiệm lớp thông qua mô hình lớp học hạnh phúc” để tìm ra câu trả lời thiết thực nhất cho bản thân, cho đồng nghiệp và cho các em học sinh. 2. Mục đích đề tài Bản thân tôi có cơ hội tự nhìn nhận, đánh giá lại phương pháp giáo dục của mình, khắc phục hạn chế, phát huy ưu điểm, nâng cao chất lượng công tác chủ nhiệm ở những năm học tiếp theo. Thông qua đó tôi có cơ hội trao đổi về phương pháp chủ nhiệm cùng với đồng nghiệp. Trên cơ sở đó, tôi có thể mở rộng và vận dụng tùy từng hoàn cảnh cụ thể
  3. 3 của nhà trường, của từng lớp chủ nhiệm để đạt kết quả tốt hơn trong việc giáo dục học sinh, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và uy tín của nhà trường. 3. Đối tượng hướng đến Học sinh lớp chủ nhiệm 6A và học sinh các lớp đang trực tiếp giảng dạy. 4. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu trên cơ sở lí thuyết: Phương pháp này bản thân đã dựa vào các tài liệu tham khảo để làm cơ sở nghiên cứu. Phương pháp điều tra khảo sát thực tiễn: Khi nghiên cứu nội dung giải pháp này bản thân đã điều tra và khảo sát thực tiễn học sinh ở lớp mình chủ nhiệm và học sinh các lớp khác trong trường mà mình đang trực tiếp giảng dạy. Các kênh thu thập được thông tin: - Qua các hoạt động ngoại khóa mà các em tham gia tại nhà trường - Qua các giáo viên trực tiếp giảng dạy - Qua mối quan hệ bạn bè của chính bản thân các em Phương pháp thống kê: Từ những phương pháp trên tôi đã thống kê mô tả lại thực trạng và hiệu quả sau khi áp dụng thực hiện giải pháp. 5. Tên biện pháp Tên biện pháp: Biện pháp nâng cao hiệu quả công tác chủ nhiệm lớp thông qua mô hình lớp học hạnh phúc. 6. Lĩnh vực áp dụng Trong công tác chủ nhiệm học sinh cấp trung học cơ sở 7. Thời gian áp dụng Từ ngày 06/9/2021 PHẦN II: NỘI DUNG 1. Cơ sở lí luận 1.1. Khái niệm hạnh phúc “Hạnh phúc là cảm xúc vui sướng, hài lòng của con người trong cuộc sống. Hạnh phúc là cảm xúc vui sướng, hài lòng của con người trong cuộc sống khi được đáp ứng, thỏa mãn các nhu cầu cầu vật chất và tinh thần”. Hạnh phúc cá nhân gắn liền với hạnh phúc của xã hội, không có hạnh phúc riêng lẻ. Hạnh phúc của học sinh trung học rất đơn giản và có thể thực hiện được như: luôn nhận được sự động viên, khen ngợi của thầy cô, bố mẹ về thành tích học tập cũng như hành động, cư xử của mình; được sống và học tập trong một môi trường thân thiện; gia đình, người thân tạo điều kiện vật chất, tinh thần trong khả năng hiện có phục vụ cho học tập và rèn luyện; được thầy cô và bạn bè yêu mến, tôn trọng; được tiếp thu kiến thức thông qua những bài học bổ ích, thú vị của thầy cô
  4. 4 sau đó vận dụng nó vào đời sống, làm hành trang cho bản thân; được chia sẻ với mọi người về những điều mà mình biết 1.2. Lớp học hạnh phúc Lớp học hạnh phúc là nơi giúp giáo viên và học sinh hình thành và duy trì các trạng thái cảm xúc tích cực. Mỗi lớp học hạnh phúc sẽ tạo nên một môi trường học đường mà ai tham gia cũng cảm thấy hạnh phúc. Được tham gia vào các lớp học hạnh phúc sẽ giúp cho mỗi cá nhân thiết lập được các tình cảm lành mạnh, góp phần phát triển nhân cách tốt đẹp. Lớp học hạnh phúc là lớp học có sự tương tác chủ động, tích cực với cảm xúc từ hai phía: nhà tổ chức và chủ thể thực hiện. Lớp học hạnh phúc là điểm đến mà mỗi cá nhân cảm thấy muốn đến, khi đến có những hứng thú, có niềm vui, có sự mong chờ, có rung cảm... Lớp học hạnh phúc là nơi có thể cảm nhận được sự an toàn, sự nâng đỡ hay sự thú vị khi có nhiều điều nằm trong nhu cầu được thỏa mãn. Học sinh đến trường như thế nào là hạnh phúc, có thể quy thành một mệnh đề: Mỗi ngày đến trường là một ngày vui. Cần khẳng định không quá lý tưởng đến mức vui mà không nhớ hay không hiểu nhiệm vụ thay vào đó là thực hiện nhiệm vụ một cách chủ động, tích cực với sự thoải mái, khao khát, cố gắng tích cực nhất. Bên cạnh đó, người học cảm thấy có niềm tin, có rung động, có động lực khi đến lớp và dễ nhớ nhung nếu không đến lớp... 1.3. Tiêu chí xây dựng lớp học hạnh phúc Mô hình “Trường học hạnh phúc” được UNESCO đưa ra xoay quanh các giá trị về con người (People), hệ thống (Process), và môi trường (Place) được coi như một tiêu chuẩn mới trong việc xây dựng các cơ sở giáo dục đem lại giá trị thực sự cho học sinh, phụ huynh và giáo viên. Vì thế, có thể xây dựng trường học hạnh phúc, lớp học hạnh phúc chính là tạo nền tảng, bệ đỡ tinh thần để những ý tưởng, mục tiêu giáo dục, đào tạo được thực thi một cách hiệu quả, ý nghĩa nhất. Để xây dựng một lớp học hạnh phúc theo UNESCO cần 22 tiêu chí, tuy nhiên áp dụng với thực tế Việt Nam, Công đoàn giáo dục Việt Nam đã đưa ra 3 tiêu chí. Sau khi nghiên cứu thực tế nhà trường, tôi đưa ra 3 tiêu chí sau: - Tiêu chí 1: Về môi trường lớp học và phát triển cá nhân + Học sinh tham gia đầy đủ các hoạt động giao lưu văn nghệ, TDTT, được học tập và tham gia các hoạt động giáo dục kĩ năng sống để tăng cường sức khoẻ thể chất và tinh thần của học sinh. + Phòng học được sắp xếp, bài trí gọn gàng, đạt chuẩn theo quy định, đảm bảo an toàn, phòng chống tai nạn thương tích. + GVCN thường xuyên sử dụng các biện pháp quản lý, giáo dục kỉ luật tích cực. Phát huy hiệu quả vai trò của công tác tư vấn học đường tại lớp.
  5. 5 + Tạo cơ hội để mỗi học sinh, mỗi thầy cô giao đều được phát huy tối đa tiềm năng của bản thân, không ai bị bỏ lại, không ai bị lãng quên, tất cả đều thay đổi để phù hợp và tiến bộ hơn so với chính mình. - Tiêu chí 2: Về dạy và học + Trong mọi hoạt động giáo dục, hoạt động dạy và học, thầy cô giáo là tấm gương cho học sinh trong mọi hoạt động giáo dục, hoạt động dạy và học. + Thầy cô thực hiện việc phân công nhiệm vụ cho học sinh một cách công bằng, hợp lý, phù hợp với điều kiện và khả năng của học sinh. + Phương pháp và hình thức tổ chức dạy học của thầy cô chú trọng đến việc tạo hứng thú, phù hợp, thấu hiểu và chấp nhận sự khác biệt về tâm lí, thể chất, hoàn cảnh của từng em. + Bài tập về nhà và thi vừa sức, không gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe thể chất và tâm lý học sinh. - Tiêu chí 3: Về các mối quan hệ trong lớp + Học sinh và giáo viên biết chia sẻ động viên, hỗ trợ lẫn nhau trong các nhiệm vụ được giao của lớp. + Học sinh kính trọng, lễ phép với thầy cô, đoàn kết với bạn bè, không có sự phân biệt đối xử, kì thị. + Thầy cô lắng nghe tích cực, phản hồi mang tính xây dựng trong xử lý tình huống với cha mẹ học sinh và học sinh. Và để xây dựng lớp học, trường học hạnh phúc, đúng như nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phùng Xuân Nhạ từng nhấn mạnh, có ba tiêu chí để xây dựng nên một trường học hạnh phúc, đó là: yêu thương, an toàn và tôn trọng; đồng thời xác định hoạt động nâng cao năng lực ứng xử sư phạm, đạo đức nhà giáo – người lao động là yếu tố quyết định để xây dựng nên một trường học hạnh phúc. Đây được xem là một hoạt động trọng tâm của ngành Giáo dục từ năm học 2018 –2019 đến những năm tiếp theo, nhằm giúp cho đội ngũ giáo viên ngày càng vững mạnh về mọi mặt và sẵn sàng tích cực đồng hành với lộ trình đổi mới giáo dục của nước nhà. 2. Thực trạng nghiên cứu 2.1. Về phía bản thân Bản thân giáo viên chủ nhiệm chúng tôi bị áp lực từ nhiều phía: - Trước hết, không thể không nói đến áp lực từ nội dung kiến thức, chương trình học. - Thứ hai là áp lực từ kết quả thi, thành tích trong giáo dục. - Thứ ba là áp lực đến từ phụ huynh học sinh. - Thứ tư là áp lực đến từ xã hội.
  6. 6 - Thứ năm đó là áp lực đến từ chính bản thân luôn muốn làm tròn các vai trò mà xã hội đã giao cho mình. Do đó, tôi đã tự đưa mình và học sinh vào những khuôn khổ, những đích do mình tự đặt ra mà đôi khi không phù hợp với người học. Tôi luôn trăn trở làm sao học sinh lớp mình chủ nhiệm vừa ngoan, vừa học giỏi và có kĩ năng sống tốt, đặc biệt là giúp học sinh lớp chủ nhiệm mỗi ngày đến trường, đến lớp là một ngày vui, hạnh phúc và ý nghĩa. 2.2. Về phía học sinh Tôi đã tiến hành khảo sát về tâm lý của học sinh ngay sau khi nhận lớp chủ nhiệm vào tháng 9/2020, năm học 2020-2021. Số học sinh được khảo sát tại hai lớp: 39 HS lớp 6A và 37 HS lớp 6B với câu hỏi "Các em có hạnh phúc khi đến trường không?". Kết quả khảo sát được tổng hợp qua bảng sau: Mức độ hạnh phúc 6A 6B 1 Chưa bao giờ hạnh phúc % 1 hs 2.56% 2 hs 5,4% 2 Hiếm khi hạnh phúc % 8 hs 20,5% 5 hs 13,5% 3 Thỉnh thoảng hạnh phúc % 20 hs 51,2% 18 hs 48,6% 4 Thường xuyên hạnh phúc % 10 hs 25,74% 12 hs 32,5% Nguyên nhân học sinh lớp ít hạnh phúc: - Nguyên nhân chủ quan: học sinh chịu áp lực học tập quá lớn. Học sinh luôn cảm thấy kém cỏi, thiếu tự tin, ngại giao tiếp, không biết thể hiện bản thân Một số học sinh còn ham chơi, bị thú vui lôi kéo như nghiện game, nghiện điện thoại - Nguyên nhân khách quan: do áp lực trong giờ học, thi cử và sự kì vọng của thầy cô và phụ huynh; thầy cô hay quát mắng nặng lời với học sinh trước đám đông, nhất là học sinh phạm lỗi; giáo viên dạy không gây hứng thú cho người học; có giáo viên luôn tạo áp lực quá sức cho học sinh khiến giờ học căng thẳng; do bạo lực học đường, do không được chia sẻ, không được quan tâm từ bạn bè và thầy cô, gia đình. 3. Các biện pháp xây dựng lớp học hạnh phúc thông qua công tác chủ nhiệm Bản thân tôi ra trường đã nhiều năm, cũng đã chủ nhiệm nhiều thế hệ học sinh, khi đứng trước nhiều đối tượng học trò với nhận thức, tính cách, hoàn cảnh sống khác nhau, tôi luôn cố gắng tìm ra những biện pháp khác nhau để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Trong đó, tôi luôn tâm niệm và đề cao biện pháp đầu tiên có ý nghĩa quyết định, đó là: giáo viên chủ nhiệm hãy biến mình là người mẹ thứ 2 của tập thể lớp. Thật vậy, giáo viên chủ nhiệm chính là linh hồn của tập thể lớp, vừa là nhà quản lí, vừa là nhà giáo dục trong một tập thể thu nhỏ. Giáo viên chủ nhiệm được coi là “Hiệu trưởng” của một lớp, là người gần gũi học sinh nhất, hiểu rõ tâm tư tình cảm của học sinh, luôn trực tiếp uốn nắn kịp thời những hành vi sai
  7. 7 trái của học sinh và giúp đỡ học sinh. Giáo viên chủ nhiệm cũng là người kịp thời phát hiện và phát huy những năng lực nổi bật và phẩm chất học sinh. Vì vậy, khi được Ban giám hiệu phân công lớp chủ nhiệm, trước hết tôi đã tìm hiểu hoàn cảnh, đặc điểm tâm sinh lý, nhân cách, những ưu điểm, hạn chế của từng học sinh thông qua các biện pháp sau: - Tìm hiểu gia đình học sinh: như trình độ học vấn, nghề nghiệp của cha mẹ học sinh, hoàn cảnh, mức sống, phương pháp giáo dục và những đặc điểm khác... Ví dụ: em Lê Văn A, bố mẹ đi làm ăn xa, ở nhà với ông bà nội nhưng có ý thức tự giác trong học tập. - Tìm hiểu học sinh: tính cách, tính chuyên cần, về phương pháp học tập, kết quả học tập, ý thức rèn luyện ở các lớp trước thông qua quá trình học hoặc gặp giáo viên chủ nhiệm trước để hỏi thăm tình hình. Ví dụ: em Nguyễn Thị B là học sinh ngoan, chăm chỉ, luôn chấp hành nội quy của trường lớp. Sau khi đã tìm hiểu được tình hình lớp, nguyên nhân dẫn đến học sinh không hạnh phúc khi đến trường, qua tìm hiểu qua các phương tiện truyền thông, bằng kinh nghiệm thực tiễn, bản thân đã đưa ra các biện pháp nhằm xây dựng “lớp học hạnh phúc”. Trong đó, tôi tập trung vào bốn biện pháp sau: 3.1. Bản thân thầy cô thay đổi, để lớp học hạnh phúc hơn Một trong những thay đổi đầu tiên của giáo viên chủ nhiệm đó là việc tổ chức giờ sinh hoạt lớp làm sao để gây được hứng thú cho học sinh, không làm cho giờ sinh hoạt bị căng thẳng hoặc nhàm chán, lôi cuốn học sinh vào những hoạt động tích cực. Hiểu rõ được vai trò, ý nghĩa của tiết sinh hoạt trọng việc xây dựng lớp học hạnh phúc, tôi luôn cố gắng đa dạng hoá về nội dung và hình thức tổ chức tiết sinh hoạt; thu hút tối đa sự tham gia của học sinh. Thay vì cách làm xưa nay là giáo viên chủ nhiệm “thuyết giảng” về bài học đạo đức một chiều; phê bình những sai phạm cũng như biểu dương những thành tích một chiều thì tôi đưa ra những “Chuyên đề” phù hợp cho học sinh trong giờ sinh hoạt cuối tuần. Nội dung các chuyên đề phải thật gần gũi, thiết thực, phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi. Có thể theo chủ điểm hàng tháng hoặc những vấn đề đang được xã hội quan tâm như môi trường sống, an toàn giao thông; lợi ích và bất lợi của việc sử dụng điện thoại; lợi ích của việc đọc sách và lòng đam mê tìm hiểu kiến thức; tự học như thế nào để có kết quả tốt; kinh nghiệm học giỏi bộ môn; khắc sâu kiến thức và phương pháp học tập Khi đưa ra những chuyên đề này, tôi luôn xây dựng những tình huống có vấn đề để phát huy trí lực học sinh; khơi gợi những bức xúc, những suy nghĩ đa chiều để các em bộc lộ.
  8. 8 Ví dụ: Với chủ đề tháng 11 – Tôn sư trọng đạo. Tôi phát động phong trào thi đua học tập giành điểm 9, điểm 10 kính dâng lên thầy cô nhân ngày 20-11. Các em học sinh rất hào hứng tham gia. Kết thúc đợt thi đua, tôi tổng kết và trao thưởng cho các em, món quà tuy nhỏ bé nhưng đó chính là lời khích lệ, động viên, ghi nhận sự chăm chỉ, cố gắng của các em học sinh. Học sinh nhận thưởng trong đợt thi đua nhân ngày 20-11 Thông qua mỗi buổi sinh hoạt lớp, học sinh được vui chơi, học mà chơi, chơi mà học, các em được xả stress do áp lực của học tập. Từ đó, học sinh hứng thú và hạnh phúc hơn mỗi ngày đến trường. Học sinh chơi trò chơi theo nhóm trong giờ sinh hoạt
  9. 9 Học sinh liên hoan sau giờ sinh hoạt thú vị 3.2. Thay đổi các hình phạt đối với học sinh Học sinh lứa tuổi trung học cơ sở đang trong giai đoạn học làm người lớn, thích thể hiện bản thân, luôn muốn được thầy cô bạn bè chú ý, chính vì vậy mà không ít lần các em mắc lỗi làm ảnh hưởng tới kết quả học tập của bản thân, kết quả thi đua của tập thể lớp. Vì vậy, không ít giáo viên hiện nay đang sử dụng những hình thức kỉ luật mang tính “trừng phạt” khi học sinh mắc lỗi sai và ảnh hưởng đến lớn đến việc hình thành nhân cách học sinh. Những hình thức kỉ luật này mang tính truyền thống và cứng nhắc như: phạt đòn roi, phạt viết kiểm điểm và tự kiểm điểm trước lớp, trước toàn trường, nêu tên trên chào cờ, bỏ rơi, không quan tâm hay làm cho xấu hổ nhằm mục đích khiến học sinh biết hậu quả của việc làm sai. Do đó, tôi luôn đã luôn trăn trở làm sao để tìm ra các hình thức kỉ luật tích cực hơn. Thay vì sử dụng các hình thức kỉ luật thật nghiêm khắc tôi đã thay vào đó là các “hình thức kỉ luật tích cực”. Kỉ luật tích cực là một biện pháp giáo dục hoàn toàn khác với hình thức kỉ luật truyền thống. Kỉ luật truyền thống là một hình thức trừng phạt về thể xác hoặc tinh thần khiến học sinh sợ nhưng đôi khi không hiểu rõ sai phạm nên có nguy cơ tái phạm dẫn đến chống đối. Kỉ luật tích cực là phi bạo lực về cả thể xác lẫn tinh thần, là một quá trình thường xuyên, liên tục và nhất quán, thông qua khuyến khích khả năng tư duy, lựa chọn và tinh thần tự chịu trách nhiệm của học sinh. So với kỉ luật truyền thống thì kỉ luật tích cực cho học sinh hiểu các em luôn được tôn trọng, được lắng nghe nên sẽ ít có những phản ứng tiêu cực đối với bản thân, gia đình, bạn bè và xã hội. Tâm lý của các em cũng có biểu hiện tốt hơn, không còn mặc cảm, tự ti và sẽ chủ động trong việc tự thay đổi bản thân, phát huy các giá trị tích cực của mình.
  10. 10 Theo các chuyên gia giáo dục, việc mắc lỗi của học sinh là tất yếu trong quá trình học tập và phát triển. Khi giáo viên sử dụng các biện pháp kỉ luật tích cực, không dùng roi vọt, không nhục mạ thì học sinh có nhiều cơ hội chia sẻ, bày tỏ cảm xúc. Các em thấy mình được quan tâm, tôn trọng, lắng nghe ý kiến, vì thế sẽ tích cực, chủ động hơn trong học tập và rèn luyện, tự tin, phát huy được khả năng của bản thân, sống vui vẻ, hòa nhập, gần gũi với mọi người, học sinh hiểu và tự giác chấp hành kỷ luật. Phương pháp kỷ luật tích cực là biện pháp giáo dục học sinh không sử dụng đến các hình thức bạo lực, trừng phạt mà thay vào đó là sử dụng những hình thức kỉ luật tích cực, phù hợp để giúp học sinh giảm thiểu những hành vi không phù hợp, củng cố các hành vi tích cực và phát triển nhân cách một cách tốt đẹp, bền vững. Bên cạnh đó, chúng tôi không được phớt lờ đi những lỗi của học sinh. Trong một số trường hợp HS cá biệt, vi phạm nội quy trường lớp, các biện pháp giáo dục ý thức kỉ luật học sinh tỏ ra bất lực thì các hình thức kỉ luật bằng hình phạt mới được đưa vào để giáo dục. Như vậy, hình phạt chỉ là biện pháp sau cùng nhằm mục đích điều chỉnh những sai phạm của người học nhưng không phải là trừng phạt thân thể hay xúc phạm đến nhân phẩm học sinh. Thay vào đó chúng tôi dùng hình phạt “tích cực” mang tính giáo dục và giá trị nhân văn. Một số hình thức chúng tôi đã từng áp dụng trong giáo dục học sinh mắc lỗi và nhận thấy rất hiệu quả: - Vệ sinh trường lớp: Hình phạt này vừa giáo dục ý thức lao động cho học sinh vừa bảo vệ môi trường, các em cũng cảm thấy không nặng nề, tự nguyện thực hiện và lần sau không tái phạm. - Chăm sóc cây cảnh: Chăm sóc cây cảnh là việc làm thường xuyên trong mỗi gia đình. Tuy nhiên ở trường học, học sinh ít hoặc không được thực hiện nhiệm vụ ấy. Vậy nên chăm sóc cây cảnh vừa là hình phạt lại không là hình phạt với học sinh. Chăm sóc cây cảnh là việc làm nhẹ nhàng, có giá trị, học sinh thấy được ý nghĩa, giá trị của nó nên không sẽ thoải mái hơn và thực hiện tự giác hơn. Học sinh vi phạm thực hiện tưới cây sau giờ học
  11. 11 - Đọc sách: Đối với học sinh lười học, giáo viên đưa ra hình thức kỉ luật học sinh tìm đọc một cuốn sách mà giáo viên giới thiệu (cần lựa chọn những cuốn sách tiêu biểu, có dung lượng vừa phải, hoặc giáo viên sẽ lựa chọn chủ đề có nội dung giáo dục tương ứng với điều học sinh vi phạm). Trong thời gian 1 tuần học sinh phải đọc và chia sẻ những điều mà mình đã đọc và học được ở cuốn sách đó trong giờ sinh hoạt lớp. 3.3. Giáo viên chủ nhiệm cần đảm bảo nguyên tắc tôn trọng và đối xử công bằng với học sinh lớp chủ nhiệm Trong trường học, việc thực hiện các nguyên tắc không phải chỉ là nghĩa vụ và trách nhiệm của học sinh mà trước hết chính thầy cô giáo phải gương mẫu thực hiện. Với bản thân tôi, nguyên tắc vàng trong ứng xử với học sinh là “Tôn trọng và đối xử công bằng”. Trong đời sống tình cảm chúng ta yêu mến người này hơn người khác cũng là cảm xúc tất yếu, hợp qui luật tự nhiên. Nhưng những chuyện thiên vị cảm tính đó không thể để chi phối quá trình quản lí và giáo dục học sinh. Tôn trọng học sinh là phải tôn trọng cá tính, sự khác biệt của các em. Tôn trọng lời nói, hành động, suy nghĩ quan điểm của các em. Sự tôn trọng sẽ đi liền với cách đánh giá công bằng, khách quan. Chúng tôi nhận thấy các thầy cô giáo chủ nhiệm thường có xu hướng thiên vị các bạn trong ban cán sự lớp. Bởi những học sinh này là trợ thủ đắc lực của thầy cô trong công tác chủ nhiệm. Tuy nhiên, sự thiên vị đó nếu kéo dài sẽ dẫn đến sự thiếu tôn trọng của học sinh trong lớp đối với chúng ta. Các em sẽ nhận thấy chúng ta đối xử thiếu công bằng, các em thấy không được tôn trọng từ đó sẽ dẫn đến sự phản đối, không phục thầy cô. Trong lớp học, có những học sinh có nhiều đóng góp cho tập thể lớp nhưng khi học sinh đó có lỗi chúng tôi vẫn phải xử lí sai phạm đúng mức, đúng qui trình vừa giúp học sinh nhận ra khuyết điểm vừa để nhắc nhở các học sinh khác. Ngược lại, có học sinh hay vi phạm nhưng khi em có tiến bộ hay có đóng góp cho lớp, chúng tôi cũng phải nhìn nhận công bằng để tuyên dương, khen thưởng khi các em có lỗi phải xử lí, khi các em có thành tích phải tuyên dương khen thưởng. Nhân vô thập toàn, trong cuộc sống cũng như trong quá trình giáo dục không phải lúc nào thầy cô cũng đúng. Đôi khi chúng tôi cũng đã đưa ra những kết luận không phù hợp, đôi khi cách giải quyết của chúng tôi chưa đúng, chúng tôi không ngần ngại nói lời xin lỗi trước học sinh, sau lời xin lỗi là lời cảm ơn các em đã giúp chúng tôi nhận ra điều chưa hợp lí đó. Hành động này cũng là thông điệp mà GVCN gửi tới học sinh: chúng ta không chỉ học hỏi được từ thầy cô hay những người lớn hơn ta về độ tuổi hoặc học vấn mà tất cả mọi người xung quanh kể cả khi trình độ của họ thấp hơn nhưng nếu biết tôn trọng, lắng nghe chúng ta có thể thu nhận được rất nhiều điều bổ ích.
  12. 12 Môi trường giáo dục làm việc trên cơ sở trách nhiệm, tình thương nhưng phải có kỉ cương. Xử lí vi phạm của học trò là điều không ai mong muốn song lại cần thiết để giúp các em phát triển toàn diện. Để hạn chế vi phạm của học trò, chúng tôi đã cố gắng tuân thủ nguyên tắc trong giáo dục của mình. Luôn tôn trọng, đối xử công bằng, luôn kiểm soát cảm xúc cá nhân tránh xung đột không đáng có. Tuy nhiên, việc mắc lỗi của học sinh là tất yếu trong quá trình học tập và phát triển. Để học sinh nhận ra sai phạm và tự giác sữa chữa rất cần sự chủ động, bình tĩnh và sáng suốt của thầy cô. Chúng tôi đã áp dụng cách xử lí vi phạm theo 5 bước cũng là cách để các em suy nghĩ và tự giác thay đổi: Bước 1: Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến sai phạm của học sinh trước khi đưa ra hình thức xử phạt. Luôn có sự bao dung, độ lượng khi nhìn nhận những sai phạm của các em Bước 2: Để học trò đánh giá hành động của mình bằng cách: - Trình bày lại sự việc - Phân tích tình huống, nhận xét thái độ của bản thân và người khác lúc đó (tại sao lại có thái độ như thế); - Nêu ra cách xử lí tình huống theo hướng khác? Bước 3: Phân tích đúng/sai; phù hợp/không phù hợp để học sinh hiểu Bước 4: Để học sinh tự nhận khung hình phạt Bước 5: Áp dụng linh hoạt hình thức xử phạt đã được tập thể qui định. Chúng tôi nghĩ đây là cách làm việc khách quan, dân chủ, tôn trọng. Không phải khi học sinh mắc sai phạm lỗi hoàn toàn thuộc về các em. Hãy lắng nghe, tìm hiểu xem các em cần gì, nguyên nhân nào dẫn đến sự việc học sinh mắc lỗi. Học sinh muốn nhận được sự cảm thông chia sẻ và bao dung của thầy cô nên tuyệt đối tôi không dùng bạo lực (lời nói, hành động thô bạo) làm tổn thương các em. Học trò sau khi nhận ra lỗi lầm của mình sẽ sửa chữa và hoàn thiện bản thân. 3.4. Thảo luận dân chủ, công khai trong việc xây dựng nội quy lớp học Đầu năm học lớp 6, tôi chủ động xây dựng nội quy lớp học cho các em. Trong nội quy, tôi cũng luôn nhấn mạnh đến những điều cấm vi phạm, đi liền đó là hình thức xử phạt khá nặng nề. Thâm tâm chúng tôi luôn nghĩ, đưa ra hình thức xử phạt càng nặng các em sẽ càng sợ và không dám vi phạm. Nhưng thực tế mắc lỗi là điều tất yếu đối với học trò, chính vì thế bản thân chúng tôi lại rơi vào tình huống khó xử khi áp dụng hình phạt, học sinh cũng rất căng thẳng khi bị xử lí. Sau khi trao đổi với các em, tôi đã hiểu được mong muốn của học sinh. Tôi đã để học sinh cùng tham gia xây dựng nội quy, chế độ khen thưởng và xử phạt của lớp. Tôi nghĩ đây cũng là một hình thức giáo dục thể hiện tính dân chủ, phát huy tinh thần trách nhiệm và tự giác của học trò.
  13. 13 Hình ảnh học sinh xây dựng “Nội quy lớp học” Để có được nội quy lớp học, tôi yêu cầu học sinh tìm hiểu, nắm rõ nội quy của nhà trường từ đó xây dựng quy chế riêng phù hợp cho lớp của mình. Các em sẽ tự thảo luận theo tổ. Mỗi một thành viên đều có ít nhất một đề xuất cho nội quy của lớp. Mỗi điều trong nội quy phải được đa số thành viên đồng ý. Nếu không đồng ý, học sinh sẽ phân tích, giải thích rõ lí do. Sau khi nội quy được thống nhất,các em sẽ chép lại, xin ý kiến của bố mẹ và tự giữ bản nội quy đó để thực hiện. Hình ảnh “Nội quy lớp học”
  14. 14 Nội quy lần này là do học sinh tham gia xây dựng, được tất cả thành viên lớp thông qua, được sự đồng thuận của cha mẹ học sinh nên các em đều đã cố gắng thực hiện. Áp dụng nội qui này, tôi nhận thấy sự tiến bộ rõ rệt của học sinh. Đó là kết quả của sự chung tay xây dựng đầy yêu thương, gắn bó của cô trò chúng tôi. Các bước thực hiện như sau: - Bước 1: Giáo viên tổ chức lấy ý kiến của của học sinh về những nội quy cần có: + Chia học sinh thành những nhóm nhỏ và thảo luận theo các câu hỏi: + Mong muốn của bản thân em khi đến trường? + Các em mong muốn lớp của mình như thế nào? + Em mong muốn gì ở bạn bè, thầy cô? + Để đạt được những mong đợi đó, học sinh nên và không nên làm gì? + Từng cá nhân nêu ý kiến, sau đó thống nhất và đưa ra ý kiến của nhóm. - Bước 2: Chia sẻ ý kiến giữa các nhóm và thống nhất các ý tưởng + Từng nhóm chia sẻ ý kiến cho cả lớp + Cả lớp thống nhất ý kiến về những điều các em muốn, về lớp học lý tưởng. - Bước 3: Thống nhất nội quy lớp học + Tổ chức thảo luận chung về các nội quy các nhóm đưa ra. + Từ các ý kiến của học sinh, tôi cùng học sinh thống nhất nội quy lớp. - Bước 4: Cam kết thực hiện Tất cả mọi thành viên cam kết thực hiện nội quy đã đề ra. Như vậy, với biện pháp trên, tôi đã giáo dục học sinh ý thức trách nhiệm với bản thân và với tập thể lớp. Các em được dân chủ và công khai thảo luận – xây dựng nội quy, qui định lớp học. Nội quy lớp chúng tôi, do chính học sinh trong lớp đề ra. Do vậy, trong suốt năm học, phần lớn các em rất tôn trọng nội quy và nghiêm túc thực hiện. 4. Những vấn đề đặt ra trong việc xây dựng “lớp học hạnh phúc” Phương pháp lấy học sinh làm trung tâm là một cách tiếp cận khác biệt so với phương pháp “lấy giáo viên là trung tâm”. Với phương pháp tiếp cận này, học sinh trở thành chủ thể chính của hoạt động học tập. Lớp học không còn là môi trường thầy giảng gì, trò nghe nấy mà sẽ là nơi học sinh là người chủ động học, tương tác, trao đổi và phản biện, còn giáo viên sẽ là người quan sát, hướng dẫn và định hướng. Phương pháp lấy học sinh làm trung tâm khơi gợi sự chủ động, tự tin và tinh thần trách nhiệm của học sinh. Phương pháp cũng là một yếu tố xây dựng năng lực tự học suốt đời, xây dựng cho các em một kỹ năng thiết yếu của con người thế kỷ XXI.
  15. 15 Việc xây dựng “lớp học hạnh phúc” cũng xuất phát từ quan điểm trên. Đòi hỏi giáo viên và học sinh có thời gian và nỗ lực bản thân để thay đổi “lối mòn” tồn tại trong thời gian dài. 4.1. Với giáo viên Phải thay đổi nhận thức về “quyền con người”, “giá trị con người” coi con người nói chung, học sinh nói riêng là một chủ thể của quán trình nhận thức. Từng bước thay đổi “thói quen” không còn phù hợp trong điều kiện mới. Cần tôn trọng học sinh, phát huy năng lực của học sinh. Cụ thể hóa nhận thức bằng những hành động cụ thể, việc làm cụ thể, tạo điều kiện để học sinh được thể hiện mình, được phát huy khả năng của bản thân. 4.2. Với học sinh Nhận thức mình là chủ thể trong hoạt động giáo dục, từ đó tự tin, chủ động, sáng tạo trong các hoạt động. Chủ động trong hoạt động, thể hiện năng lực bản thân, khẳng định mình. Từ đó có tinh thần trách nhiệm trong các hoạt động của lớp, của trường. PHẦN III: KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 1. Đối với học sinh Năm học 2020 – 2021 triển khai việc xây dựng lớp học hạnh phúc tại lớp chủ nhiệm, tôi thu được kết quả sau: Kết quả điều tra tâm lý: Kết thúc học kì I Mức độ hạnh phúc 6A 6B 1 Chưa bao giờ hạnh phúc % 1 hs 2,56% 1 hs 2,7% 2 Hiếm khi hạnh phúc % 7 hs 17,9% 5 hs 13,5% 3 Thỉnh thoảng hạnh phúc % 21 hs 53,8% 18 hs 48,64% 4 Thường xuyên hạnh phúc % 10 hs 25,74% 12 hs 35,16% Kết thúc học kì II Mức độ hạnh phúc 6A 6B 1 Chưa bao giờ hạnh phúc % 0 hs 0% 0 hs 0% 2 Hiếm khi hạnh phúc % 6 hs 15,3% 5 hs 13,5% 3 Thỉnh thoảng hạnh phúc % 24 hs 61,5% 20 hs 54,05% 4 Thường xuyên hạnh phúc % 12 hs 23,2% 12 hs 32,45%
  16. 16 Kết quả trên cho ta thấy, tỉ lệ học sinh thường xuyên hạnh phúc tăng cao hơn và không còn học sinh chưa bao giờ hạnh phúc, điều đó chứng tỏ rằng giáo viên chủ nhiệm xây dựng lớp học dựa trên tiêu chuẩn hạnh phúc của học sinh đã bước đầu thành công. Học sinh có nhiều cơ hội chia sẻ, bày tỏ cảm xúc, luôn cảm nhận được sự quan tâm, tôn trọng, lắng nghe ý kiến từ thầy cô, bạn bè và mọi người xung quanh. Học sinh nhận ra được lỗi lầm, hạn chế của họ để khắc phục, sữa chữa, phát triển toàn diện bản thân. Học sinh đã tích cực, chủ động hơn trong học tập và rèn luyện bản thân. Học sinh tự tin trước đám đông, không mặc cảm tự ti về những khuyết điểm, hạn chế của bản thân. Học sinh phát huy được những tiềm năng, những mặt tích cực, điểm mạnh của cá nhân. Qua một thời gian áp dụng những phương pháp trên, tôi nhận thấy lớp học đã đạt được những kết quả như sau: - Nền nếp lớp học ngày một tốt hơn. Học sinh tự giác trong học tập và các hoạt động của Đoàn, nhà trường phát động. - Học sinh tích cực, sôi nổi, hòa đồng và thân thiện, biết tạo màu sắc riêng cho lớp học. Các em yêu trường, yêu lớp hơn rất nhiều. Học sinh cảm thấy vui vẻ, hạnh phúc khi đến lớp. Từ đó, học sinh tích cực học tập, hăng hái xây dựng phát biểu bài cũng như tham gia vào các hoạt động tập thể. 2. Đối với bản thân và đồng nghiệp Các biện pháp này giúp chúng tôi và đồng nghiệp tháo gỡ được những khó khăn trong công tác chủ nhiệm. Giáo viên chủ nhiệm hiểu sâu sắc giá trị của hạnh phúc từ đó xây dựng tiết dạy hạnh phúc và lớp học hạnh phúc của mình. Khi xây dựng lớp học hạnh phúc thành công đồng nghĩa với việc xây dựng được mối quan hệ thân thiện thầy- trò, trò kính trọng, tin tưởng và yêu quý thầy cô; thầy cô hiểu, thông cảm với khó khăn của trò, yêu thương và hết lòng vì học sinh. Trong công tác chủ nhiệm, tôi giảm được áp lực quản lý lớp vì học sinh hiểu và tự giác chấp hành kỷ luật. Tôi đã có được hạnh phúc, yêu nghề và muốn đến lớp, đến trường mỗi ngày. 3. Khả năng nhân rộng biện pháp Mô hình lớp học hạnh phúc có thể được nhân rộng đến tất cả các lớp học, đến từng giáo viên trong trường giúp trường học trở nên hạnh phúc. Mỗi ngày đến trường của học sinh và giáo viên đều là một ngày vui. Từ đó, những lớp học hạnh phúc sẽ thu hút được học sinh vào học tập tại trường, hạn chế học sinh bỏ học, nâng cao chất lượng giáo dục toàn và được nhân đân và xã hội tin tưởng. Mục tiêu trường học hạnh phúc đặt ra của nhà trường đã đạt được những thành công.
  17. 17 PHẦN IV: KẾT LUẬN- KIẾN NGHỊ 1. Kết luận Mô hình trường học hạnh phúc là một thông điệp, quyết tâm lớn của ngành giáo dục, và để mô hình trường học hạnh phúc không dừng lại ở khẩu hiệu, phong trào nhất thời, cần nâng cao nhận thức của toàn thể đội ngũ thầy cô giáo, cán bộ quản lý giáo dục, học sinh, phụ huynh và toàn xã hội trong việc kiến tạo môi trường học tập, giáo dục lành mạnh, nhân văn, tiến bộ. Để người học có được niềm vui, niềm hân hoan, hạnh phúc mỗi khi đến trường, mỗi thầy cô giáo đặc biệt thầy cô chủ nhiệm lớp phải trao đi những yêu thương bằng những hành động cụ thể; biết quan tâm đến hoàn cảnh của mỗi em; nắm bắt được tâm lí, năng lực, sở trường của người học để có biện pháp giáo dục phù hợp, hiệu quả nhất. Quá trình xây dựng lớp học hạnh phúc chúng tôi nhận ra rằng việc khó khăn nhất là mỗi giáo viên phải cố gắng thay đổi bản thân mình để đạt được hạnh phúc. Chúng ta đặt mục tiêu cho sự thay đổi trong từng gian đoạn, suy nghĩ và rút kinh nghiệm mỗi ngày. Qua các buổi trao đổi với các đồng nghiệp về công tác chủ nhiệm, tôi đã chia sẻ đến các thầy cô và được sự đồng tình rất lớn. Mô hình lớp học hạnh phúc sẽ nhân rộng ở các lớp khác trong trường. 2. Kiến nghị Để công tác chủ nhiệm của giáo viên đạt được thành tích góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục, tôi xin có một số đề xuất như sau: - Phòng Giáo dục và Đào tạo, cần tổ chức các lớp tập huấn về phương pháp giáo dục kỉ luật tích cực và đổi mới trong công tác chủ nhiệm lớp để giáo viên có điều kiện tiếp cận, sáng tạo những hình thức phù hợp cho đối tượng học sinh của mình. Nhân rộng các điển hình về công tác chủ nhiệm lớp, về xây dựng “lớp học hạnh phúc”, “trường học hạnh phúc”. - Ban giám hiệu nhà trường trang bị thêm các sách tâm lý học đường, sách phương pháp giáo dục tích cực, tổ chức các buổi thảo luận về phương pháp chủ nhiệm để các thầy cô trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm. Trên đây chỉ là một vài kinh nghiệm nho nhỏ của tôi. Tôi rất mong sự đóng góp của lãnh đạo chuyên môn và các thầy cô đồng nghiệp, đặc biệt là Hội đồng chấm báo cáo để giải pháp của tôi có hiệu quả hơn trong những năm chủ nhiệm và dạy học tiếp theo. Tôi xin chân thành cảm ơn! Yên Lạc, ngày tháng 11 năm 2022 Yên Lạc, ngày 22 tháng 11 năm 2022 Thủ trưởng đơn vị Người viết Lưu Thị Thu Trà