Sáng kiến kinh nghiệm "1 Số kinh nghiệm dạy trẻ chậm phát triển trí tuệ ở trường Tiểu học" - Vi Thị Thu Hương

doc 20 trang hanhan 05/11/2025 1140
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm "1 Số kinh nghiệm dạy trẻ chậm phát triển trí tuệ ở trường Tiểu học" - Vi Thị Thu Hương", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_1_so_kinh_nghiem_day_tre_cham_phat_tri.doc

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm "1 Số kinh nghiệm dạy trẻ chậm phát triển trí tuệ ở trường Tiểu học" - Vi Thị Thu Hương

  1. I. ĐẶT VẤN ĐỀ Trẻ em là mối quan tâm hàng đầu của gia đình, cộng đồng và toàn xã hội. Trẻ em là mầm non của đất nước do đó trẻ cần được hưởng sự giáo dục, dạy dỗ chu đáo của tất cả mọi người từ gia đình đến xã hội, đặc biệt là trẻ khuyết tật. Vì vậy giáo dục trẻ khuyết tật là nhiệm vụ quan trọng, đầy tính nhân văn của toàn xã hội nói chung và ngành giáo dục nói riêng. Giáo dục hòa nhập bảo đảm cho trẻ khuyết tật hưởng những quyền giáo dục cơ bản, quyền tự do không tách biệt, tham gia vào mọi hoạt động xã hội và có cơ hội cống hiến. Giáo dục hòa nhập giúp phát triển toàn diện các mặt cho trẻ khuyết tật, bao gồm: đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và khả năng lao động. Phát triển kiến thức, kĩ năng văn hóa xã hội, thái độ tích cực, tạo điều kiện hòa nhập cộng đồng khi trẻ 18 tuổi. Trẻ khuyết tật có cơ hội hòa nhập vào môi trường giáo dục bình thường, phát triển hài hòa và tối đa những khả năng còn lại để hình thành, phát triển nhân cách. Trẻ khuyết tật thường được phân thành các nhóm sau: + Trẻ khiếm thính + Trẻ khiếm thị + Trẻ chậm phát triển trí tuệ + Trẻ học khó + Trẻ khuyết tật ngôn ngữ - giao tiếp + Trẻ khuyết tật vận động + Trẻ đa tật Trong đó trẻ chậm phát triển trí tuệ là trẻ có: - Chức năng hoạt động trí tuệ ở dưới mức trung bình một cách đáng kể; - Hạn chế (khó khăn) ít nhất ở hai trong các lĩnh vực hành vi thích ứng với môi trường và xã hội như: giao tiếp/ tương tác cá nhân, tự phục vụ, sinh hoạt trong gia đình, sử dụng các tiện ích công cộng, các kĩ năng xã hội, tự định hướng, kĩ năng học đường, giải trí, lao dộng, sức khỏe và an toàn; 1
  2. - Hiện tượng này xuất hiện trước 18 tuổi. Trẻ chậm phát triển trí tuệ không phải là trẻ có hoàn cảnh không thuận lợi cho việc học tập như: điều kiện kinh tế quá khó khăn, bị bỏ rơi giáo dục, ốm yếu lâu ngày, rối loạn tâm lí Trẻ chậm phát triển trí tuệ được các nhà khoa học đề cập đến là năng lực nhân thức rất hạn chế, kèm với nó là sự thích ứng môi trường và xã hội rất kém. Chính vì vậy, người ta không thể giáo dục trẻ chậm phát triển trí tuệ như những trẻ bình thường mà cần có kế hoạch giáo dục cá nhân riêng cho mỗi trẻ. Việc xây dựng một chương trình riêng là phù hợp với mục tiêu chung của giáo dục trẻ chậm phát triển trí tuệ (giáo dục dựa trên nhu cầu, khả năng riêng, môi trường sống, triển vọng tương lai của trẻ). Kế hoạch giáo dục cá nhân là điều kiện cơ bản của công tác giáo dục hòa nhập, là sự cụ thể hóa các hoạt động của nhà trường đối với từng trẻ. Với vai trò to lớn như vậy, Kế hoạch giáo dục cá nhân cần được xây dựng với mỗi trẻ khuyết tật. Kế hoạch giáo dục cá nhân nếu được xây dựng sớm chừng nào thì càng đem lại nhiều cơ hội phát triển cho trẻ khuyết tật, đặc biệt là đối với trẻ chậm phát triển trí tuệ chừng đó. Đối với hệ thống giáo dục tiểu học của nhà nước ta hiện nay, phần lớn các hoạt động học tập của học sinh được diễn ra ở trường. Trẻ chậm phát triển trí tuệ học hòa nhập cũng không ngoại lệ, các em cũng tham gia vào quá trình học tập như những học sinh khác. Do đó, hầu hết thời gian ở trường trẻ sẽ nhận được sự giáo dục của giáo viên chủ nhiệm lớp. Giáo viên chủ nhiệm lớp có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xây dựng và thực hiện Kế hoạch giáo dục cá nhân. Hơn ai hết, giáo viên chủ nhiệm là người hiểu rõ nhất những khả năng, nhu cầu cũng như những diễn biến sức khỏe, trạng thái tâm lí hằng ngày của trẻ. Giáo viên chủ nhiệm chính là người trực tiếp tổ chức, thực hiện các hoạt động giáo dục và dạy học tại lớp học mình phụ trách nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục và dạy học đã đề ra đối với trẻ khuyết tật. Đó là cơ sở của phương pháp sư phạm mà giáo viên sử dụng. Phương pháp sư phạm này được đặc trưng bởi một quá trình liên tục bao gồm các giai đoạn: đánh giá mức độ chức năng hiện tại, đặt mục tiêu, lên kế hoạch cho chương trình, thực hiện kế hoạch, đánh giá. Kế 2
  3. hoạch giáo dục cá nhân là sự cụ thể hóa mục tiêu giáo dục của nhà trường đối với học sinh chậm phát triển trí tuệ, nhằm đáp ứng một cách tốt nhất những nhu cầu và khả năng của trẻ. Tuy nhiên, qua những điều tra ban đầu tôi thấy rằng: các giáo viên dạy học hòa nhập hầu hết là những giáo viên không được đào tạo chuyên biệt về giáo dục trẻ hòa nhập nên để có thể giáo dục cho đối tượng học sinh khuyết tật lớp mình họ chỉ được tham gia những buổi tập huấn ngắn về giáo dục trẻ khuyết tật. Các giáo viên này chưa được cung cấp kiến thức và kĩ năng phù hợp để có thể xây dựng được một Kế hoạch giáo dục cá nhân đáp ứng nhu cầu và khả năng của trẻ, vì vậy những bản Kế hoạch giáo dục cá nhân còn sơ sài, tồn tại nhiều bất cập và hạn chế nên việc thực thi đạt hiệu quả chưa cao. Hơn nữa, không phải các cá nhân nào, các tổ chức xã hội nào cũng có nhận thức đầy đủ về trẻ khuyết tật dẫn đến sự quan tâm, chăm sóc trẻ khuyết tật chưa thực sự được toàn diện. Thực tiễn đã chứng minh rằng, trẻ khuyết tật hoàn toàn có thể tham gia học cùng nội dung giáo dục với trẻ bình thường, các em sẽ dễ dàng học được không những kiến thức về văn hoá mà còn học được những kiến thức, kỹ năng xã hội, khả năng thích ứng và hoà nhập trẻ khuyết tật đã đáp ứng được yêu cầu về các mặt kiến thức, kỹ năng, thái độ cần hình thành cho mọi học sinh ( trong đó có học sinh khuyết tật) phù hợp với yêu cầu chung của xã hội. Xuất phát từ những lí do trên mà tôi chọn sáng kiến kinh nghiệm: “ Một số kinh nghiệm dạy trẻ chậm phát triển trí tuệ ở trường Tiểu học" 3
  4. II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1. Thực trạng của vấn đề * Về phía giáo viên: Năm học 2014-2015 tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm và giảng dạy lớp 2A với 31 học sinh trong đó có 1 học sinh khuyết tật, đó là em Trần Tiến Dũng con ông Trần Xuân Thụ ở khu 2- Đông Thành- Thanh Ba- Phú Thọ. Sau khi nhận lớp, qua điều tra ban đầu tôi thấy bản thân mình gặp một số thuận lợi và cũng không ít trở ngại sau: + Thuận lợi: Bản thân tôi đã có 17 năm trong nghề dạy học, thời gian tôi làm chủ nhiệm và giảng dạy lớp 2, 3 nhiều hơn so với lớp 4, 5; được đào tạo theo chuẩn nghề nghiệp và đã được học các modul và chương trình dạy học sinh khuyết tật học hòa nhập. Bên cạnh đó tôi luôn luôn phấn đấu thực hiện tốt việc tự học, tự rèn của mình nhất là việc dạy học cho học sinh khuyết tật. Cán bộ giáo viên trong nhà trường đều nhận thức được rằng: Giáo dục hòa nhập mang tình nhân đạo sâu sắc của Đảng, Nhà nước ta và cũng chính là để thực hiện Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em; giáo dục hòa nhập mang tính tất yếu, lâu dài trong sự nghiệp giáo dục nói chung. + Khó khăn: Những buổi học đầu tiên tôi thấy em đi lại, nói tự do trong giờ, hay trêu ghẹo bạn, tôi băn khoăn sợ ảnh hưởng đến lớp học. Em không tự chủ trong việc đi vệ sinh cá nhân vì thế có những giờ học tôi vừa dành thời gian dạy kiến thức cho học sinh đại trà, lại phải dành thời gian phục vụ công tác vệ sinh cho em. Trong giờ ra chơi tôi luôn phải bám sát em để ngăn kịp thời khi em gây gổ với bạn. Trong giờ học tôi hỏi em không nói, hướng dẫn em không làm lại còn nổi cáu với cô giáo. Tôi thực sự lo lắng và đôi lúc thấy chán nản không biết làm thế nào để em ngoan ngoãn và nghe lời cô hơn. Bản thân được tập huấn về giáo dục trẻ khuyết tật với thời gian ngắn, ít 4
  5. được tiếp xúc với thực tế nên kinh nghiệm chăm sóc, giáo dục trẻ còn hạn chế, việc lập kế hoạch chăm sóc giáo dục trẻ còn gặp nhiều khó khăn. *Về phía học sinh: Qua tìm hiểu gia đình và tiếp xúc với trẻ, tôi thấy em rất khó khăn trong việc ghi nhớ bài học, nhanh chóng quên những kiến thức học tập. Ghi nhớ không chính xác, có hiện tượng quên bất thường, ghi nhớ cả những thông tin không được yêu cầu. Chính vì vậy mà em đã có thời gian học lớp 1 là 2 năm. Theo như kết quả của năm học trước em Dũng đã nhận biết được 5 chữ cái (a, ă, â, b, c ) và 5 số (0, 1, 2, 3, 4 ). Qua 3 tháng hè tôi nhận dạy em từ tháng 8/ 2014 em Dũng lại trở về như lúc ban đầu (không còn nhớ chữ và số nữa). Em khó tập trung trong thời gian dài, dễ bị phân tán, tập trung kém bền vững, thường chuyển từ hoạt động chưa hoàn thành sang hoạt động khác. Luôn bị phân tán, khó tuân theo các chỉ dẫn, khó kiên nhẫn đợi đến lượt, khó kiềm chế các phản ứng. Tư duy của em yếu về khái quát hóa, thiếu tính liên tục và không theo trình tự. Các thao tác của tư duy hình thành không trọn vẹn, khi thực hiện nhiệm vụ em thường có thao tác thừa hoặc thiếu vì cử động vụng về, khó hoàn thành nhiệm vụ được giao, không động não suy nghĩ. So sánh các sự vật hiện tượng thiên về xác định sự khác biệt hơn là sự giống nhau. Ngôn ngữ của em chậm hơn so với trẻ bình thường cùng độ tuổi, khi đến tuổi đi học, em có vốn từ ít và sai, phát âm không chính xác, ngọng, lắp. Sử dụng từ không theo đúng nghĩa, khó khăn khi chọn từ để thể hiện ý tưởng của mình, không hiểu được những từ có tính chất trừu tượng, em nói không liền mạch, không mạch lạc. Những khó khăn về ngôn ngữ đã gây nên nhiều trở ngại trong hoạt động giao tiếp của em như: em thường mất nhiều thời gian để tiếp nhận và biểu đạt thông tin bằng ngôn ngữ nói và viết. Hạn chế khả năng đặt câu hỏi một cách trực tiếp, mức độ cao có thể không giao tiếp được trong một số tình huống nhất định. Hạn chế khả năng chơi cùng nhóm bạn, khó tuân theo các qui tắc chơi, không biết chờ đến lượt. Có một số hành vi bất thường: - Không biết chào hỏi khi gặp thầy cô giáo; 5
  6. - Thích đi lại, đùa nghịch tự do trong lớp, không thích ngồi học; - Không biết tự đi vệ sinh; - Nổi cáu với bạn và cô giáo một cách vô lí; - Nói tự do (câu, từ không có nghĩa) Em có hình dáng và tầm vóc không bình thường. * Về phía gia đình học sinh: - Gia đình còn mặc cảm rất nặng nề về khuyết tật bẩm sinh của con mình, không muốn cho ra xã hội, hòa nhập. - Gia đình ít con nên chiều chuộng, luôn đáp ứng những yêu cầu không “chuẩn” của trẻ. Vì lẽ đó mà sự phối hợp giáo dục giữa giáo viên chủ nhiệm và phụ huynh gặp nhiều bất cập. - Phó mặc sự giáo dục cho nhà trường và giáo viên. - Nhận thức về cách giáo dục trẻ chưa đúng đắn. Đó chính là những khó khăn mà bản thân tôi gặp phải khi nhận lớp có trẻ khuyết tật. Nó đặt ra cho tôi nhiều suy nghĩ, phải dùng những phương pháp nào để giúp trẻ khuyết tật có thể hoà nhập được với các bạn trong lớp và trẻ có hứng thú tham gia vào các hoạt động của lớp nói chung và tham gia các hoạt động của nhà trường nói riêng. 6
  7. 2. Các biện pháp giải quyết vấn đề Với trách nhiệm của người thầy và tình thương của tôi với em và gia đình, ngay từ buổi đó tôi đã xác định cho bản thân mình coi trẻ như con đẻ. Tôi nghĩ rằng đối với trẻ khuyết tật nếu chỉ dạy em bằng trách nhiệm của người thầy thì chưa đủ mà còn phải dạy dỗ, giúp đỡ em bằng cả tình thường của người mẹ thì việc làm mới có kết quả cao. Tôi thiết nghĩ rằng để giúp trẻ học có kết quả chúng ta phải có nội dung, phương pháp, kế hoạch cụ thể và các hình thức tổ chức phù hợp. Chính vì vậy tôi đưa ra một số biện pháp sau: 2. 1. Quan sát, xác định khả năng, nhu cầu của trẻ Để xác định đúng những khả năng và nhu cầu của trẻ chậm phát triển trí tuệ có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, song chủ yếu là tôi dùng phương pháp quan sát. Trong quá trình quan sát học sinh tôi thường tiến hành một cách thận trọng, tỉ mỉ và ghi nhận xét hàng ngày ở mọi thời điểm khác nhau và trong các hoạt động khác nhau mà trẻ tham gia như học tập, vui chơi, lao động... khi trẻ thực hiện nhiệm vụ một mình cũng như cùng tham gia với bạn bè. Những gì tôi quan sát được bao giờ tôi cũng ghi vào phiếu quan sát và đánh giá. + Quan sát quá trình trẻ tiếp nhận thông tin từ môi trường qua các giác quan: thính giác, thị giác, xúc giác, khứu giác, cơ quan vận động và sự phối hợp giữa các giác quan. + Quan sát khả năng thu lượm thông tin của trẻ thông qua ghi nhớ, liên tưởng, hiểu nguyên nhân và kết quả. - Trẻ có nhớ được không khi nhìn thấy, nghe thấy những gì xảy đã xảy ra? - Trẻ có phân biệt được màu sắc, hình dáng các vật không? - Trẻ có phân biệt được sự giống và khác nhau giữa các vật không? - Trẻ có hiểu âm thanh thông dụng trong môi trường không? - Trẻ có nhớ những việc làm hàng ngày không? - Trẻ nói như thế nào? bạn có hiểu trẻ nói gì không? Trẻ giao tiếp như thế nào? Trẻ di chuyển ra sao? ... - Trẻ có lắp ghép được hình không? Trẻ có tự mặc được áo quần không? 7
  8. - Trẻ có nhận biết được hình không?... + Quan sát hành vi của trẻ trong lớp: - Trẻ chống cự hay nổi khùng hoặc từ chối không tham gia hoạt động? - Trẻ tham gia vào hoạt động như thế nào? Trẻ quấy phá lớp học hay ngồi lỳ . * Qua quá trình quan sát em Dũng tôi biết được: - Em Dũng chỉ thích tham gia vào các hoạt động tự do; - Hay nổi cáu với bạn và cô giáo; - Đi vệ sinh tự do; - Không trả lời khi có người khác hỏi; - Nói những câu, từ không có nghĩa; - Không ngồi học tập trung; - Khi nói phát âm không chính xác, ngọng, lắp. 2.2. Xây dựng mục tiêu giáo dục cụ thể: Những gì quan sát được ở trên chính là cơ sở để tôi xây dựng những mục tiêu giáo dục cá nhân cụ thể theo từng giai đoạn. + Mục tiêu dài hạn: Mục tiêu dài hạn là những mục tiêu lớn được thực hiện trong thời gian dài. Ví dụ như: Trong thời gian một học kỳ trẻ cần phải đọc và viết đúng các âm vị Tiếng việt. + Mục tiêu ngắn hạn: Mục tiêu ngắn hạn đặt ra cho những vấn đề nhỏ và thực hiện trong một thời gian ngắn. Nội dung của mục tiêu này có thể là để giáo dục hành vi hoặc để hình thành kỹ năng nào đó trong học tập hay trong lao động. Ví dụ: Trong tháng 9 trẻ cần: nhớ và viết được 5 chữ cái và 5 số đầu tiên; biết chào hỏi khi gặp thầy cô giáo. 2.3. Lập kế hoạch giáo dục cá nhân và thực hiện: * Giáo dục hành vi - kĩ năng sống cho trẻ: Khi em lảng tránh không tham gia vào các hoạt động của nhóm hoặc của lớp tôi đã gần gũi để tìm hiểu nhu cầu của em là gì? để từ đó giúp em: 8
  9. + Xoá bỏ mặc cảm của mình, dần hoà nhập vào tập thể nhóm hoặc lớp. + Rèn luyện để trẻ có thái độ tốt với bạn bè, biết kính trọng giáo viên, cha mẹ và người lớn. + Rèn luyện trẻ biết kiềm chế bản thân trong hành động sai lệch. Tích cực tham gia vào hoạt động của tập thể và biết giúp đỡ bạn. + Biết đánh giá những hành vi sai, đúng. Để thực hiện được các nội dung trên cần phải: - Làm tốt công tác tư tưởng cho học sinh trong lớp chuẩn bị đón nhận bạn gặp khó khăn vào lớp, để trẻ có thái độ chan hoà khi tiếp xúc với bạn, tránh trêu chọc, chế diễu bạn. - Xây dựng vòng bè bạn giúp đỡ trẻ trong mọi hoạt động để trẻ khỏi cảm thấy cô đơn. - Đưa trẻ vào tham gia các hoạt động của tập thể nhóm, lớp để trẻ có tinh thần tập thể và thương yêu nhau. - Dạy trẻ cách chào hỏi lễ phép với người lớn. - Dạy trẻ biết đi đúng lề đường bên phải của mình. - Nêu những gương tốt, việc làm tốt trước tập thể để làm gương cho trẻ học tập. - Giúp trẻ nhận biết những việc làm của mình để trẻ rút kinh nghiệm, nên thường xuyên động viên trẻ. * Dạy văn hoá: Dạy văn hoá là một trong những nội dung cơ bản trong quá trình giáo dục. Nội dung dạy học phải thiết thực, cơ bản phải phù hợp với từng đứa trẻ: - Dạy em đọc, viết hợp với khả năng để em hoà nhập vào cuộc sống xã hội. - Dạy em tìm hiểu tự nhiên và xã hội để em hiểu thêm về cuộc sống xã hội và thiên nhiên. Trong quá trình giảng dạy tôi luôn luôn điều chỉnh nội dung bài học phù hợp với khả năng và nhu cầu của trẻ để cho trẻ lĩnh hội kiến thức dễ dàng hơn. Khi điều chỉnh nội dung dạy học, tôi đã xác định rõ: 9
  10. + Kiến thức và kĩ năng trẻ đã có + Trẻ cần học cái gì? + Trẻ học như thế nào? + Trẻ sẽ học được cái gì? Điều chỉnh nội dung dạy học bao gồm: + Điều chỉnh về số lượng kiến thức + Điều chỉnh về mức độ khó kiến thức + Điều chỉnh về mức độ áp dụng kiến thức Trong một tiết học tôi luôn: + Thay đổi hình thức dạy học: Hướng dẫn học sinh lĩnh hội kiến thức thông qua tổ chức các hoạt động khác nhau: hoạt động chung của cả lớp, học theo từng nhóm và học thông qua sự giúp đỡ của bạn bè. Dạy học thông qua các môi trường khác nhau: trong lớp, ngoài sân trường + Điều chỉnh môi trường học tập + Vận dụng phương pháp dạy học khác nhau + Thay đổi yêu cầu và tiêu chí đạt thành công của trẻ + Điều chỉnh cách giao nhiệm vụ và bài tập. + Thay đổi cách trợ giúp. Ở trẻ chậm phát triển trí tuệ sự hình thành mối liên hệ có điều kiện rất khó và chậm so với trẻ bình thường. Mặt khác mối liên hệ mới được hình thành lại không được bền vững dễ mất đi nên trẻ khó nhớ và chóng quên. Vì vậy trong quá trình dạy học phải hình thành được khả năng ghi nhận lại trong não của trẻ bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần. - Đối với trẻ chậm phát triển trí tuệ cần được học trong hoạt động nhiều hơn là dùng lời giảng. Hướng dẫn trẻ làm một điều gì đó hơn là miêu tả cách làm, đây là một việc làm trực tiếp và cụ thể. Đối với trẻ hướng dẫn làm cũng chưa đủ trẻ cần được tham gia vào quá trình hoạt động. Ví dụ: Khi trẻ đang chơi trong vòng tròn và không vỗ tay theo nhịp hát trong 10
  11. khi đó các bạn khác vỗ tay, lúc ấy giáo viên cần đứng sau lưng trẻ và cầm 2 tay trẻ và vỗ cùng các bạn. Dạy cho trẻ hoạt động nhiều và huy động các giác quan của trẻ tham gia vào việc lĩnh hội. Ví dụ: Trong giờ dạy tập đọc giáo viên cần yêu cầu trẻ chậm phát triển trí tuệ đọc lại tên bài theo giáo viên hoặc theo bạn; nêu Tranh vẽ con vật gì? mặc dù trong tranh minh họa có rất nhiều sự vật khác; nêu tên một chữ cái có trong một từ nào đó. Đối với các giờ học khác cũng vậy cần đặt yêu cầu cho trẻ với số lượng ít hơn và mức độ thấp hơn so với trẻ bình thường. - Để trẻ chóng hiểu bài tôi sử dụng đồ dùng dạy học một cách triệt để và linh hoạt. Đồ dùng dạy học có thể là vật thật gần gũi với trẻ có thể là tranh ảnh, mô hình, sơ đồ - Trẻ học hoà nhập không như trẻ bình thường có những biểu hiện không tự chủ được giáo viên phải nhẹ nhàng khuyên bảo, động viên, nhắc nhở, giải thích cho trẻ hiểu không nên quát mắng trẻ để tạo ra sự thân thiện giữa cô giáo và trẻ. Khi tổ chức 1 tiết học, thời gian tập trung học của trẻ không được liên tục giáo viên không nên gò ép trẻ mà phải tạo cho trẻ có cảm giác thoải mái khi học. Trong tiết dạy giáo viên cần để ý đến trẻ hơn thường xuyên, nhắc nhở trẻ, khuyến khích trẻ. - Giáo viên cần phải kiên trì dạy dỗ trẻ, khuyến khích trẻ nói và khen ngợi trẻ kịp thời. Phải dạy trẻ từng bước một không nên hối thúc trẻ phải làm đúng theo yêu cầu của cô giáo. Nếu hôm nay trẻ không làm được cô có thể cho trẻ thực hiện tiếp vào ngày hôm sau. - Trẻ chậm phát triển trí tuệ có nhiều khó khăn về nói nên tôi đã động viên trẻ nói ra những điều trẻ muốn nói. Khi trẻ nói tôi chú ý lắng nghe để động viên và kịp thời sửa những lỗi sai. - Nói cho trẻ nghe khi ta làm điều gì đó cho trẻ. - Khuyến khích trẻ mang tới lớp vật gì đó để kể về vật đó và yêu cầu trẻ 11
  12. nói những việc xảy ra hàng ngày mà trẻ thường nhìn thấy. - Tạo cho trẻ tham gia các hoạt động của lớp và nói về chủ đề đó như ( hát, múa, đọc thơ, làm đồ chơi). - Hãy nói với trẻ bằng ngôn ngữ mà trẻ hiểu được. - Giúp trẻ sử dụng những từ mà trẻ hiểu được vào giao tiếp. - Yêu cầu trẻ nhắc lại những từ chính xác gọi là chuẩn mực. * Giáo dục lao động: - Giáo dục trẻ lao động góp phần cho trẻ phát triển toàn diện và giúp trẻ hội nhập vào cộng đồng. Thời kỳ đầu tôi rèn luyện cho trẻ thói quen tự phục vụ như biết sử dụng các đồ dùng học tập, biết tự vệ sinh thân thể, tự mặc, thay quần áo, - Dạy cho trẻ biết những việc làm đơn giản phù hợp với khả năng của trẻ và tôi còn dạy trẻ biết quý trọng người lao động, quý trọng sản phẩm làm ra, đồng thời huấn luyện cho trẻ kỹ năng lao động từ những thao tác đơn giản đến phức tạp. Sau khi thực hiện Kế hoạch giáo dục cá nhân cụ thể đối với trẻ tôi thấy em Dũng đã biết: - Hòa đồng với bạn bè - Cùng tham gia vào một số hoạt động của nhóm, lớp - Biết trả lời khi người khác hỏi (mặc dù những câu nói chưa đầy đủ) - Biết đi đúng lề đường bên phải của mình khi đi bộ - Nhận biết được một số con vật, cây cối xung quanh - Nhận biết và viết được các số từ 0 đến 9 và 10 chữ cái đầu tiên (mặc dù các nét chữ viết chưa chuẩn) 2.4. Đánh giá kết quả giáo dục: - Đánh giá kết quả lĩnh hội kiến thức: Trẻ chậm phát triển trí tuệ thường gặp nhiều khó khăn trong hoạt động nhận thức. Do đó tôi vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo trong đánh giá để động viên, khuyến khích trẻ đạt kết quả ngày càng tốt hơn. - Đánh giá rèn luyện kĩ năng: 12
  13. Trong quá trình giáo dục trẻ chậm phát triển trí tuệ, tôi đánh giá việc rèn luyện kĩ năng của trẻ thể hiện trong sinh hoạt hàng ngày, sinh hoạt tại nhà trường, tại cộng đồng, trong hoạt động vui chơi, trong hoạt động giao tiếp ứng xử. - Đánh giá kĩ năng sống: Đánh giá định tính dựa vào mục tiêu, kế hoạch giáo dục cá nhân theo các tiêu chí tiến bộ. - Đánh giá thái độ: Đánh giá biểu hiện hành vi, cử chỉ đối với bản thân, bạn bè và công việc trong ứng xử và hội nhập cộng đồng. Đánh giá hành vi phù hợp hay chưa phù hợp trong những tình huống, hoàn cảnh cụ thể tại các môi trường khác nhau của trẻ. - Đánh giá kết quả học tập: Đánh giá định tính dựa vào mục tiêu, kế hoạch giáo dục cá nhân theo các tiêu chí: đạt – chưa đạt, tiến bộ rõ rệt – tiến bộ - ít tiến bộ. 2.5. Huy động sự tham gia và phối hợp của cộng đồng Để giáo dục trẻ chậm phát triển trí tuệ một cách toàn diện thì cần có sự phối hợp của gia đình - nhà trường và các tổ chức xã hội: * Nhà trường: Là nơi trẻ được học, vui chơi và tham gia suốt quá trình giáo dục, nơi đây trẻ sẽ được học, được rèn luyện những phẩm hạnh, thói quen. Do đó mọi thành viên của nhà trường như lãnh đạo nhà trường, giáo viên và học sinh đều có trách nhiệm đối với công tác này. - Ban giám hiệu là người điều hành bố trí trẻ và lớp nào cho phù hợp và là người chịu trách nhiệm để truyền đạt giải thích cho giáo viên ở trường và tất cả học sinh phải tham gia như thế nào. - Giáo viên chủ nhiệm là người trực tiếp giáo dục trẻ hàng ngày ở trên lớp và trong giờ ra chơi và là người tổ chức cho tất cả học sinh của lớp làm gì và làm như thế nào để giúp trẻ tiến bộ. Giáo viên chủ nhiệm là người đóng vai trò quan trọng trong công tác giáo giục hoà nhập và là người quyết định kết quả 13
  14. giáo dục. - Học sinh trong lớp, trong trường là môi trường để hoà nhập và là người giúp đỡ trẻ trong mọi hoạt động và tạo cho trẻ khả năng hội nhập sớm muộn. * Gia đình: Gia đình là nơi trẻ sống hàng ngày, trẻ được người thân đặc biệt là bố mẹ chăm lo, săn sóc chu đáo. Người trong gia đình hiểu về trẻ của mình rõ nhất nên đóng vai trò quan trọng trong công tác giáo dục con em mình cùng với nhà trường. * Các tổ chức xã hội: Bên cạnh những người có trách nhiệm trực tiếp như đã nêu trên, đoàn thể, chính quyền địa phương và các tổ chức từ thiện cũng đóng vai trò quan trọng. Chính quyền và các đoàn thể là nơi tập hợp được các lực lượng để thực hiện nhiệm vụ và sẽ tạo mọi điều kiện giúp đỡ về vật chất cũng như tinh thần cho giáo dục trẻ. Giáo dục hoà nhập ở môi trường cộng đồng đòi hỏi mọi người, mọi ngành trong cộng đồng xã hội tham gia tích cực với lòng nhân ái, bao dung đối với trẻ khuyết tật thì mới đạt kết quả trong đó nhà trường và gia đình là yếu tố quan trọng, cần phải phối hợp thường xuyên chặt chẽ, để có biện pháp giáo dục đạt hiệu quả nhất. 14
  15. 3. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm Qua quá trình áp dụng Sáng kiến kinh nghiệm trong thực tế công tác giảng dạy em Trần Tiến Dũng tại lớp 2A trường tiểu học Đông Thành – Thanh Ba – Phú Thọ tôi thu được kết quả như sau: *Những ngày đầu nhận lớp: Em Dũng còn mặc cảm, lảng tránh không tham gia vào các hoạt động của nhóm hoặc của lớp; không nghe theo lời cô giáo nói; đi lại và nói tự do trong lớp; hay nóng nảy với các bạn khác; không biết tự vệ sinh các nhân; Hạn chế khả năng chơi cùng nhóm bạn, khó tuân theo các qui tắc chơi, không biết chờ đến lượt. Sức khỏe lại yếu, khó khăn trong việc ghi nhớ bài học, nhanh chóng quên những kiến thức học tập, ghi nhớ không chính xác, có hiện tượng quên bất thường, dễ bị phân tán, không tập trung, không tuân theo các chỉ dẫn, không kiềm chế các phản ứng; nghe nhưng không hiểu nhiệm vụ hướng dẫn bằng lời hoặc viết của giáo viên. Khi nói phát âm không chính xác, ngọng, lắp. Sử dụng từ không theo đúng nghĩa, nói tự do, khó khăn khi chọn từ để thể hiện ý tưởng của mình, không hiểu được những từ có tính chất trừu tượng, đặc biệt trẻ gặp khó khăn khi nắm bắt những yêu cầu của người khác. Sử dụng những câu nói đơn giản, khi trẻ nói không liền mạch, không mạch lạc. * Bước đầu áp dụng sáng kiến kinh nghiệm: Em Dũng đã mạnh dạn hơn, dần dần biết tham gia vào một số hoạt động cùng các bạn; hạn chế việc đi lại tự do trong giờ học, biết nghe lời cô giáo, phản ứng không mong muốn của bản thân được hạn chế hơn. Tiến bộ hơn trong việc ghi nhớ các chữ cái, chữ số. Khi phát âm đã chính xác hơn mặc dù chưa tròn tiếng, vẫn còn hiện tượng ngọng, lắp. Hạn chế nói tự do trong giờ học. * Kết quả thu được: Em Dũng đã biết hòa đồng với các bạn, mạnh dạn hơn khi tới chỗ đông người, đã biết tham gia vào một số hoạt động học tập, lao động cùng các bạn 15
  16. như: - Biết xếp hàng cùng bạn khi ra, vào lớp, ngồi cùng hàng với bạn trong các buổi hoạt động tập thể; - Biết đứng dậy chào cô khi cô giáo vào lớp; - Biết đi vệ sinh đúng nơi quy định; - Biết cởi bớt áo khi trời nóng, biết mặc thêm áo khi trời lạnh; - Biết nghe lời cô: ngồi học đúng chỗ; - Biết trả lời khi cô giáo hỏi; - Biết đi đúng lề đường bên phải của mình khi đi bộ Ghi nhớ được nhiều hơn các chữ cái viết thường trong bảng chữ cái, nhớ và viết được các số từ 1 đến 10, biết ghép một số chữ cái lại với nhau thành các tiếng đơn giản (Ví dụ: n – a - na, v – e - ve, c – a – ca ). Nhận biết được một số cây cối, hoa, quả (cây xoài, cây na, cây chuối ) , con vật (con chó, con mèo,con gà ) gần gũi với bản thân trẻ. Khi phát âm đã chính xác hơn mặc dù chưa tròn tiếng, vẫn còn hiện tượng ngọng, lắp. Hạn chế nói tự do trong giờ học. Gia đình trẻ xóa bỏ mặc cảm về em, hiểu được nhu cầu và khả năng của trẻ, có trách nhiệm thực sự với trẻ. Với bao khó khăn dần dần được tháo gỡ, các biện pháp trên thật là hữu hiệu, tôi đã mạnh dạn trao đổi kinh nghiệm dạy trẻ Chậm phát triển trí tuệ của lớp mình với các giáo viên trong tổ, trong trường và nhận được sự đồng tình ủng hộ cao. Tôi tin rằng với các biện pháp mà tôi đã xây dựng và kế hoạch thực hiện các biện pháp ấy trong năm học này và những năm tiếp theo sẽ hiệu quả. Tôi càng khẳng định tính hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm. 16
  17. III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 1. Kết luận Giáo dục hoà nhập giúp cho học sinh khuyết tật quên đi những mặc cảm tật nguyền của mình hòa nhập với cộng đồng là mục tiêu của toàn xã hội. Học sinh khuyết tật đi học thường học khó hoặc kém, có những hành vi bất thường ngay từ nhỏ. Những khó khăn, trở ngại do môi trường sống mang lại làm cho trẻ khuyết tật không thể tham gia đầy đủ và hiệu quả các hoạt động trong cộng đồng. Chính vì lẽ đó mà những người làm công tác giáo dục trẻ khuyết tật phải hết sức kiên trì, nhẫn nại , sáng tạo trong công tác chăm sóc , giảng dạy . Giáo viên dạy hòa nhập cần nắm vững các bước giáo dục trẻ, chú ý khả năng và nhu cầu của trẻ . Xây dựng kế hoạch cụ thể từng giai đoạn , rút kinh nghiệm từng kỳ nhằm nâng cao chất lượng giáo dục hoà nhập. Qua quá trình áp dụng sáng kiến kinh nghiệm vào thực tiễn giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật tại lớp mình tôi rút ra một số kinh nghiệm sau: - Ngay từ khi nhận lớp có học sinh hoà nhập phải tìm hiểu, quan sát để xác định được khả năng, nhu cầu và hạn chế của trẻ khuyết tật học hoà nhập trong lớp mình; - Từ đó xây dựng mục tiêu giáo dục cụ thể cho trẻ; - Lập kế hoạch giáo dục cá nhân chi tiết trong từng giai đoạn cho trẻ; - Tạo môi trường thân thiện cho trẻ trong nhà trường, gia đình và xã hội cùng kết hợp với các tổ chức xã hội trong cộng đồng để giúp đỡ các em mọi lúc, mọi nơi; Giáo dục hoà nhập cho trẻ chậm phát triển trí tuệ là một công việc rất khó khăn đòi hỏi người giáo viên phải biết vận dụng một cách linh hoạt các phương pháp, hình thức dạy học khác nhau, đúng lúc, phù hợp để tạo điều kiện cho học sinh được tham gia mọi hoạt động cùng với giáo viên và bạn bè; Thêm vào đó, người giáo viên còn phải lưu ý: - Tin tưởng vào trẻ để giao việc phù hợp với nhu cầu và khả năng của trẻ. - Nâng cao tính nhận thức cho trẻ để tập cho trẻ biết tự đánh giá về mình. - Tuyên truyền cho gia đình hiểu được khả năng và nhu cầu của trẻ. 17
  18. - Phát hiện những tiến bộ hàng ngày của trẻ để động viên kịp thời, khích lệ và biểu dương trước lớp, tạo cho trẻ hứng thú. Tuyệt đối không nói xấu, chê bai trẻ trước lớp và không để trẻ khác trêu chọc, chế diễu trẻ khi trẻ sai . - Làm việc với trẻ phải dịu dàng, kiên trì không cáu gắt, hướng dẫn trẻ thực hiện nhiệm vụ cho đến thành công. Điều quan trọng nhất là phải có chữ TÂM của người Thầy. 2. Những ý kiến đề xuất * Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo: - Tăng cường công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên có chuyên môn về giáo dục trẻ khuyết tật nói chung và trẻ chậm phát triển trí tuệ nói riêng. - Thường xuyên tổ chức các đợt tập huấn về kiến thức, kĩ năng cho giáo viên dạy hòa nhập. * Đối với nhà trường - Ban giám hiệu nhà trường cần coi đây là một nhiệm vụ quan trọng trong quá trình giáo dục trẻ và cũng như là một nội dung quan trọng để đánh giá chất lượng dạy học và giáo dục của giáo viên. - Huy động sự hợp tác của các lực lượng như: giáo viên, gia đình, bạn bè, các giáo viên trong trường. - Cần tổ chức những buổi trao đổi chuyên môn về giáo dục trẻ khuyết tật học hòa nhập, về việc xây dựng và thực hiện Kế hoạch cá nhân giữa các giáo viên trong trường. *Đối với giáo viên - Cần tăng cường trao đổi, học hỏi về kiến thức và kĩ năng với những người có kinh nghiệm. - Tiếp tục nghiên cứu các đề tài khoa học giáo dục thuộc lĩnh vực giáo dục hòa nhập và tìm ra các biện pháp nâng cao chất lượng trong dạy học. Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ tôi đã rút ra bài học kinh nghiệm cho bản thân. Vì chỉ mới nghiên cứu và thực hiện trong thời gian ngắn nên còn rất nhiều thiếu sót. Kính mong các cấp quản lý và các bạn đồng nghiệp góp thêm ý kiến để tôi có kết quả chăm sóc giáo dục trẻ khuyết tật tốt hơn, giúp trẻ có thể 18
  19. nhanh chóng hoà nhập với cộng đồng. Tôi xin chân thành cảm ơn! Đông Thành, ngày 25 tháng 3 năm 2015 Người thực hiện: Vi Thị Thu Hương 19