Sáng kiến kinh nghiệm "1 Số kinh nghiệm thiết kế bài dạy nhầm nâng cao hiệu quả dạy học đối với trẻ chậm phst triển trí tuệ" - Trần Phương Lan
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm "1 Số kinh nghiệm thiết kế bài dạy nhầm nâng cao hiệu quả dạy học đối với trẻ chậm phst triển trí tuệ" - Trần Phương Lan", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_1_so_kinh_nghiem_thiet_ke_bai_day_nham.doc
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm "1 Số kinh nghiệm thiết kế bài dạy nhầm nâng cao hiệu quả dạy học đối với trẻ chậm phst triển trí tuệ" - Trần Phương Lan
- I. ĐẶT VẤN ĐỀ Do hậu quả của chiến tranh ở Việt Nam kéo dài, nền kinh tế của nước ta chậm phát triển, các điều kiện địa lý, phong tục, tập quán còn ảnh hưởng khá nặng nề đến cuộc sống của nhân dân Việt Nam. Chính vì vậy Việt Nam thuộc nhóm nước có tỉ lệ trẻ khuyết tật cao trên thế giới. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta đã khẳng định: “Đến năm 2020, Việt Nam phấn đấu xây dựng một nền giáo dục hiện đại mang tính khoa học, dân tộc và đại chúng”. Đó là một nền giáo dục của nhân dân, phục vụ nhân dân, mọi người dân được hưởng thụ, kế thừa và phát triển. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quy định: “ Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục” ( Điều 37). Hiện thực hóa các quy định về Hiến pháp, Nhà nước đã ban hành và thực hiện một số Luật nhằm “ Bảo đảm quyền bình đẳng cơ hội tham gia giáo dục tất cả trẻ em không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội” và “ nghiêm cấm cản trở việc học tập của mọi trẻ em”. ( Điều 4- Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em). Bộ giáo dục và Đào tạo từ lâu đã khẳng định cam kết thực hiện giáo dục hòa nhập cho tất cả trẻ em Việt Nam, không kể giới hạn, giới tính, dân tộc, vai vế xã hội hay bất kỳ yếu tố nào khác mà có thể dẫn đến sự tách biệt. Kế hoạch hành động Quốc gia Giáo dục cho mọi người ( EFA) 2003- 2005 đã chứng minh Bộ giáo dục luôn theo đuổi những phát triển và phương pháp tiếp cận mới để đảm bảo tất cả trẻ em có khả năng được đi học. Tuy nhiên, Kế hoạch hành động này không nhấn mạnh giáo dục cho trẻ khuyết tật, thể hiện sự thiếu quan tâm tới vấn đề khuyết tật vào thời điểm đó. Để giải quyết vấn đề này, Bộ Giáo dục và đào tạo đã ban hành Quyết định 23/2006/QĐ- BGD&ĐT về giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật. Vào năm 2007, Bộ giáo dục và Đào tạo đã xây dựng một kế hoạch cụ thể để hỗ trợ giáo dục trẻ khuyết tật, đó là Chiến lược và Kế hoạch giáo dục trẻ khuyết tật giai đoạn 2007-2010 và tầm nhìn 2015. Giáo dục hòa nhập là phương thức giáo dục, trong đó trẻ khuyết tật cùng học với trẻ em bình thường trong trường phổ thông tại nơi trẻ sinh sống. Giáo dục hòa nhập xuất phát từ quan điểm xã hội về giáo dục, coi nhà trường như một xã hội thu nhỏ và phản ánh tính chất đa dạng của xã hội. Vì vậy môi trường giáo 1
- dục phổ thông được chú ý cải thiện sao cho đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của mọi học sinh . Trong Điều lệ trường Tiểu học, Luật phổ cập giáo dục, Luật Bảo vệ, Chăm sóc và giáo dục trẻ em ( chương IV), Luật Chăm sóc sức khỏe ban đầu, Luật Giáo dục cũng đều có đề cập đến vấn đề trẻ khuyết tật có quyền như mọi trẻ em và Nhà nước phải tạo mọi điều kiện, ưu tiên thực hiện các quyền đó. Giáo dục trẻ khuyết tật là một mô hình tích cực, phù hợp với xu thế phát triển của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. Mô hình này nhằm giúp đỡ tạo điều kiện cho trẻ khuyết tật được sống, vui chơi, học tập bình đẳng như những trẻ bình thường, được tạo điều kiện để trẻ phát triển tốt, được hòa nhập cộng đồng xã hội. Học sinh khuyết tật là trọng tâm của quá trình giáo dục. Các em cần tham gia đầy đủ và bình đẳng mọi hoạt động của nhà trường và cộng đồng vì : “Trường học cho mọi trẻ em trong một xã hội, cho mọi người”. Ở Việt nam, ngay từ năm 1991 được sự giúp đỡ của tổ chức cứu trợ trẻ em Thụy Điển ( Ra- đa- ba- men) mô hình giáo dục trẻ khuyết tật vào cộng đồng đã được hình thành và phát triển. Đặc biệt chương trình này phát triển mạnh mẽ ở 4 tỉnh: Phú Thọ, Vĩnh Phúc , Tiền Giang và Thừa Thiên Huế. Hiện nay, xu thế giáo dục đang đổi mới mạnh mẽ trong tất cả các nhà trường, đặc biệt là đối với các trường tiểu học. Mục tiêu giáo dục Tiểu học là: “ Nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở”. Để đạt được mục tiêu này thì hoạt động dạy học cần hướng trọng tâm vào người học, áp dụng các phương pháp dạy học phát huy tính tích cực chủ động của học sinh. Trong giáo dục hòa nhập, ngoài những chiến lược dạy- học chung, thì giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật nói chung, giáo dục trẻ chậm phát triển trí tuệ nói riêng cần có chiến lược đặc thù riêng. Thanh Ba là một trong những huyện rất chú trọng vấn đề dạy trẻ em học hòa nhập. Trường Tiểu học Khải xuân là một trong những trường có phong trào giáo dục hòa nhập khá tốt. Trong những năm gần đây, nhà trường đã liên tục huy động 100% trẻ khuyết tật tham gia học hòa nhập từ lớp 1 đến lớp 5. Với đội ngũ giáo viên có năng lực vững vàng, yêu nghề, mến trẻ, quan tâm đến giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật và đạt được kết quả khả quan. Tất cả trẻ em khuyết tật được 2
- đến trường với sự tự tin, không mặc cảm; khả năng giao tiếp và ý thức xã hội của các em được nâng lên rõ rệt. Là một giáo viên tiểu học, trong những năm gần đây, tôi được nhà trường phân công dạy lớp có học sinh khuyết tật học hòa nhập, trong đó có trẻ chậm phát triển trí tuệ. Tôi luôn băn khoăn, trăn trở nghiên cứu và tìm tòi biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật góp phần đạt mục tiêu giáo dục tại đơn vị. Tôi thiết nghĩ, giáo dục trên cơ sở bản kế hoạch giáo dục cá nhân của mỗi trẻ khuyết tật được coi là biện pháp không thể thiếu nhằm nâng cao chất lượng giáo dục hòa nhập cũng như khả năng còn tiềm ẩn của thẻ khuyết tật thì xây dựng thiết kế bài dạy cũng là biện pháp có vai trò quan trọng như vậy, bởi giáo dục trẻ bị khiếm khuyết về ngôn ngữ hay vận động đã là khó nhưng giáo dục trẻ chậm phát trí tuệ lại khó hơn vì ở trẻ chậm phát triển trí tuệ không có khả năng “ bù- trừ” những khiếm khuyết về những hạn chế đó. Vì vậy, trong dạy - học cần có một kế hoạch cụ thể, phù hợp thông qua từng môn học, bài học hay hoạt động giáo dục nào đó. Các kế hoạch bài dạy đạt hiệu quả sẽ góp phần không nhỏ vào sự thành công kế hoạch giáo dục cá nhân của trẻ. Chính vì vậy, tôi đã mạnh dạn tổng kết và đề xuất “ Một số kinh nghiệm thiết kế bài dạy nhằm nâng cao hiệu quả dạy học đối với trẻ chậm phát triển trí tuệ” trong lớp học hòa nhập. 3
- II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ PHẦN 1: Thực trạng của vấn đề : Trường Tiểu học Khải Xuân thực hiện giáo dục hòa nhập từ năm 1997, đó là một khoảng thời gian đủ để khẳng định tính vững chắc của một một mô hình giáo dục tiến bộ vừa mang tính khoa học cao, vừa mang tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc. Tuy nhiên đây là một mô hình giáo dục mới, một xu hướng giáo dục mới ra đời chắc chắn không tránh khỏi những khó khăn nhất định trong một mô hình giáo dục truyền thống đang còn tồn tại. Bởi vậy trong quá trình triển khai trường Tiểu học Khải Xuân không tránh khỏi những khó khăn nhất định. 1- Thuận lợi: Trường Tiểu học Khải Xuân là một trường tiểu học của huyện Thanh Ba có truyền thống dạy tốt, học tốt. Là trường đầu tiên được công nhận trường chuẩn Quốc gia giai đoạn 1996- 2000. Đội ngũ giáo viên của nhà trường có phẩm chất đạo đức tốt, nhiệt tình trong công tác và có trình độ chuyên môn tương đối vững vàng, có kinh nghiệm trong giảng dạy và giáo dục học sinh. Đặc biệt nhà trường tham gia công tác giáo dục hòa nhập rất sớm. Đó là điều kiện hết sức cơ bản để góp phần thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục ở địa phương. Ban giám hiệu nhà trường luôn quan tâm, chú trọng đến công tác giáo dục hòa nhập. Thông qua những kế hoạch và nội dung chỉ đạo hết sức cụ thể như: Xây dựng kế hoạch giáo dục hòa nhập, phân công giáo viên giảng dạy, tổ chức dự giờ thăm lớp, thường xuyên trao đổi bàn bạc để rút kinh nghiệm công tác giáo dục hòa nhập. Ngoài ra, nhà trường còn tạo điều kiện về thời gian, cơ sở vật chất cho các giáo viên dạy lớp giáo dục hòa nhập. Từ năm học 2001- 2002 nhà trường rất vinh dự được Trường Cao đẳng sư phạm Phú Thọ lựa chọn là điểm thực tập sư phạm cho sinh viên sư phạm về giáo dục hòa nhập. Đây là điều kiện để nhà trường trải nghiệm phương pháp giáo dục phù hợp, hiệu quả với trẻ khuyết tật. Nhà trường rất linh hoạt và mềm dẻo trong công tác quản lý, chỉ đạo công tác giáo dục hòa nhập từ cách thức đánh giá, nội dung đánh giá và các tiêu chuẩn đánh giá đối với lớp giáo dục hòa nhập; học sinh khuyết tật. Đặc biệt đối với trẻ bị tật nặng và trẻ chậm phát triển trí tuệ, nhà trường coi trọng đánh giá 4
- về mặt xã hội, về sự hòa nhập của trẻ vào tập thể lớp. Đó cũng là sự phù hợp với quan điểm đánh giá của lý luận hòa nhập là trẻ được học, được chơi và được hòa đồng với thế giới tuổi thơ. Quan điểm này đã tạo điều kiện về mặt tinh thần cho giáo viên trong công tác tổ chức dạy và học. 2- Khó khăn: Giáo dục hòa nhập là một mô hình giáo dục khá phức tạp và khó khăn. Các cơ sở lý luận và mô hình thực tiễn nhiều khi chưa thể hiện tính thống nhất cao về mục đích, nhiệm vụ, nội dung phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức dạy học. Giáo dục hòa nhập đang là quá trình thực hiện, việc tổng kết kinh nghiệm chưa nhiều nên chưa có những hệ thống biện pháp tích cực về công tác giáo dục hòa, chưa thể hiện tính bền vững và phát triển. Đây là mô hình dạy học đa trình độ, đa phương pháp song nội dung, chương trình chưa có một hướng dẫn cụ thể dành cho trẻ chậm phát triển trí tuệ, hầu hết giáo viên giảng dạy tự nghiên cứu và tích lũy kinh nghiệm, đây là những trở ngại lớn trong công tác dạy học hòa nhập. Dạy trẻ khuyết tật trong lớp hòa nhập đã khó. Dạy trẻ chậm phát phát triển trí tuệ trong lớp hòa nhập còn khó hơn. Đối với trẻ khiếm thị, khiếm thính khó khăn về ngôn ngữ thì chúng chỉ khó khăn về phương tiện giao tiếp, phương tiện lĩnh hội tri thức, còn đối với trẻ chậm phát triển trí tuệ dù ở mức độ nào thì trẻ đều chậm hiểu và chóng quên. Vì vậy khi tổ chức dạy học cho trẻ, giáo viên không chỉ điều chỉnh nội dung, điều chỉnh phương pháp và cách thức tác động mà còn phải có sự chuẩn bị tỉ mỉ và sự kiên trì cao độ. Số lượng trẻ khuyết tật tăng theo hàng năm: Năm học 2012- 2013, nhà trường có 4 học sinh khuyết tật; năm học 2013- 2014 có 6 học sinh khuyết tật, năm học 2014- 2015 có 8 học sinh khuyết tật. Trong đó có những dạng tật khác nhau, song trẻ chậm phát triển trí tuệ chiếm tỉ lệ cao, lớp 4A do tôi chủ nhiệm có 01 học sinh chậm phát triển trí tuệ . Cùng là trẻ chậm phát triển trí tuệ nhưng các em lại có đặc điểm, hoàn cảnh, nhu cầu, khả năng riêng. Vì vậy để chuẩn bị cho một bài dạy cho trẻ chậm phát triển trí tuệ trong lớp hòa nhập là một khó khăn trở ngại lớn đối với giáo viên (như nắm nội dung chương trình dạy học, nghiên cứu sách giáo khoa, lựa chọn phương pháp dạy học, phương tiện dạy học và đặc 5
- điểm đối tượng học sinh; mục tiêu chuẩn kiến thức dành cho trẻ khuyết tật). Muốn được trang bị đủ kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm về giáo dục trẻ khuyết tật nói chung cần phải trả lời các câu hỏi sau: - Thế nào là mục tiêu hành vi? Nếu không cụ thể hóa kết quả học tập bằng hành vi của trẻ thì không tổ chức các hoạt động nhận thức của trẻ. - Thế nào là nhu cầu và khả năng của trẻ? Mỗi đứa trẻ chậm phát triển có mức độ tật khác nhau do đó nhu cầu và khả năng cũng khác nhau, nhu cầu là cái mà trẻ cần biết qua bài học, khả năng là mức độ nhận thức có thể ở trẻ. Cả hai yếu tố này đều không dễ nhận ta đòi hỏi giáo viên phải có kinh nghiệm và quan sát trên hành vi của trẻ. - Vấn đề nêu ra các hoạt động trong cấu trúc của bài dạy thường thì không chỉ rõ được đâu là hoạt động của thầy, đâu là hoạt động cho trẻ chậm phát triển trí tuệ. Muốn nêu ra các vấn đề cụ thể trong từng hoạt động ở cùng một thời điểm với các phương pháp và cách thức khác nhau thì đây là điều rất khó đối với những giáo viên ít kinh nghiệm trong lĩnh vực trẻ khuyết tật. - Để có thể tiến hành các thao tác cá biệt hóa trong một giờ học mà không ảnh hưởng tới nội dung của cả lớp học, giáo viên cần phải có những tình huống phụ và câu hỏi phụ giáo viên phải linh hoạt để sử dụng tình huống sư phạm để nhằm mục đích: Bài học đó diễn ra như thế nào? Học sinh phải hoạt động ra sao? Thì đây là một vấn đề hết sức phức tạp cho giáo viên khi tham gia dạy lớp hòa nhập. - Dự kiến xây dựng, sử dụng bộ đồ dùng học tập cho cả lớp và cho học sinh chậm phát triển trí tuệ trong một giờ học là một “bài toán” cần được giải quyết cẩn thận. Vì trẻ khuyết tật trí tuệ chỉ có thể lĩnh hội tri thức thông qua các đồ vật tranh ảnh cụ thể mà thôi. - Phân phối thời gian cân đối, đồng đều cho các hoạt động là một thao tác cần thiết trong quá trình thiết kế bài dạy. Nếu không phân bố thời gian hợp lý thì ta cũng sẽ gặp khó khăn trong quá trình tổ chức dạy học. 6
- - Lựa chọn phương pháp như thế nào để dạy học trong lớp hòa nhập đạt kết quả? Đây là một vấn đề phức tạp và khó khăn cho giáo viên và lại càng khó khăn hơn khi dạy trẻ chậm phát triển trí tuệ một đối tượng khó tiếp thu. - Xây dựng mức độ đánh giá như thế nào vừa kiểm tra về trình độ, nhận thức của học sinh vừa động viên khuyến khích hứng thú, nhu cầu nhận thức của trẻ. 3. Nguyên nhân: - Về phía nhà trường: Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học đầu tư chưa nhiều nên nhà trường chưa thật chú trọng đầu tư trang thiết bị dạy học cho lớp học có trẻ khuyết tật mà chủ yếu là do giáo viên tự làm. - Về phía giáo viên: Một số giáo viên đã được bồi dưỡng về giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật song chưa biến lý thuyết giáo dục hòa nhập vào thực tiễn; chưa đủ mọi kĩ năng để thực hiện giáo dục trẻ khuyết tật đạt hiệu quả; chưa đầu tư nhiều thời gian nghiên cứu biện pháp giáo dục, chủ yếu là thực hiện biện pháp giáo dục chung với mọi trẻ; ngại khó vì chưa thật tâm huyết với giáo dục học sinh ở lĩnh vực này. Một số giáo viên ngại dạy lớp có trẻ khuyết tật, trong đó có trẻ chậm phát triển trí tuệ vì phải mất nhiều thời gian xây dựng kế hoạch cá nhân, kế hoạch bài dạy dành cho trẻ. Mặt khác, họ cho rằng, lớp nào có trẻ khuyết tật sẽ ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục cũng như thi đua của lớp nên họ không nhiệt tình và nêu cao trách nhiệm khi nhận nhiệm vụ. - Về phía phụ huynh học sinh: Một số phụ huynh còn có quan niệm: “Trường học chỉ là nơi gửi trẻ, trẻ chỉ được trông nom còn bố mẹ thì yên tâm đi làm”; “Trẻ khuyết tật chỉ học tốt và được phát huy khả năng khi trẻ ở dạng tật nào phải được giáo dục với trẻ cùng dạng tật đó để các em không bị mặc cảm với bạn trong lớp”; “Trẻ chậm phát triển trí tuệ là trẻ chậm nhớ, nhanh quên nên không nhất thiết phải cho đi học. Vì có đi học thì trẻ cũng sẽ quên”. Đây là những quan niệm sai lầm dẫn đến những khó khăn trong công tác giáo dục của nhà trường. - Về phía trẻ chậm phát triển trí tuệ: 7
- Không hứng thú khi đến trường, lớp vì các em ít được tham gia các hoạt động học tập và giáo dục như các bạn; Các em chưa thường xuyên được giáo viên tuyên dương, khen thưởng hoặc nếu có thì rất hạn chế nên có những em cảm thấy không vui, không tự tin khi đến lớp, có những em cảm thấy như bị bỏ rơi. Chính vì vậy, các em không thích đi học, đi học không đều, chưa cố gắng khi gặp khó khăn, ngại giao tiếp với thầy cô, bạn bè. Đây là nguyên nhân khá quan trọng vì chưa tạo được niềm tin và chỗ dựa của trẻ. Nguyên nhân này dẫn đến giáo viên không dễ dàng thực hiện kế hoạch dạy học, điều chỉnh kế hoạch bài dạy. BẢNG KHẢO SÁT THỰC TRẠNG BAN ĐẦU ( Năm học 2014- 2015) 1- Số buổi em Vi đức Thịnh- Chậm phát triển trí tuệ đi học trong một tháng ( 4 tuần) được thể hiện qua bảng sau: Tổng Số buổi đi học Số buổi nghỉ Lí do nghỉ học Tuần số buổi học học TS % TS % 1 9 4 44.4 5 55.6 Sợ đi học, thích ở nhà 2 9 4 44.4 5 55.6 Đi học không được chơi 3 9 5 55.6 4 44.4 Hay bị ốm 4 9 4 44.4 5 55.6 Đi học mệt, không vui Tháng 36 17 47.2 19 52.8 Chưa hứng thú đi học, vì ở trường, lớp thứ chưa tạo được niềm vui, chưa khuyến nhất khích được trẻ. 2. Đánh giá về mức độ đạt được của em Vi Đức Thịnh theo mục tiêu đã xây dựng ở tháng thứ nhất theo kế hoạch giáo dục cá nhân( 4 tuần đầu năm học) Nội dung Mức độ đánh giá Lí do đánh giá Kiến thức Chưa đạt được mục tiêu Còn nghỉ học nhiểu, Chưa thực hiện được một số yêu cầu về kiến thức các môn học. Kĩ năng xã Chưa đạt được mục tiêu Không thích tham gia các hoạt động nên hội chưa gần gũi với bạn, ngại giao tiếp Phục hồi Chưa đạt được mục tiêu Chưa có khả năng ghi nhớ chức năng 8
- Qua bảng khảo sát thực trạng ở hai nội dung trên, ta thấy trở ngại lớn nhất trong quá trình giáo dục trẻ chậm phát triển trí tuệ là không tạo động lực để trẻ thích đến trường vì vậy không thể khai thác được khả năng tiềm ẩn trong trẻ. Muốn làm tốt được việc đó, người giáo viên phải đầu tư thời gian xây dựng những thiết kế bài dạy vừa đảm bảo mục tiêu chung, vừa đảm bảo mục tiêu cho trẻ khuyết tật giúp tất cả học sinh hứng thú trong học tập. Phần II. Các biện pháp để giải quyết vấn đề. Thiết kế một bài dạy trong lớp hòa nhập trẻ khuyết tật nói chung và thiết kế bài dạy đối với trẻ chậm phát triển trí tuệ nói riêng, trước hết phải là một giáo án dạy lớp bình thường (có nghĩa là nó cũng phải thực hiện đầy đủ các yếu tố về mặt vĩ mô). Vì cơ bản là dạy cho trẻ em bình thường, mặt khác trong lớp có trẻ chậm phát triển trí tuệ hòa nhập. Do đó ta phải chú ý xây dựng mục tiêu, nội dung, hoạt động của thầy và trẻ khuyết tật. Song, những yếu tố xây dựng phải được nằm trong một phương án chung không tách bạch (có nghĩa là không được làm ảnh hưởng tới các hoạt động chung của lớp). Với những ý tưởng đó trong năm học qua tôi đã tìm tòi, nghiên cứu, thử nghiệm và tổng kết và đưa ra một số biện pháp sau: 1- Thiết kế bài dạy theo hướng dạy học hợp tác nhóm có kết hợp với phương pháp truyền thống (như phương pháp dùng lời, phương pháp đồ dùng trực quan, phương pháp luyện tập- có mẫu giáo án kèm theo). Đây là một phương hướng dạy học hiện đại và nhờ có phương pháp này mà đã tạo được: - Giờ học đã đáp ứng được khả năng, nhu cầu của người học, tạo điều kiện cho học sinh thu nhận thông tin từ nhiều phía (phía thầy, phía bạn, từ sách vở) giúp cho trẻ tự tìm tòi, phát triển tư duy, phát huy tính tích cực sáng tạo trong giờ học. - Học sinh có thể phát huy các tri thức, kinh nghiệm và vốn sống của bản thân tạo điều kiện cho học sinh chậm phát triển trí tuệ có cơ hội được hòa nhập, được giao tiếp, nhận được nhiều sự giúp đỡ trong học tập. - Phương pháp này giáo viên có nhiều thời gian hơn quan tâm giúp đỡ cá biệt đặc biệt là giúp đỡ trẻ khuyết tật. 9
- - Phương pháp này giúp giáo viên dễ quan sát, phân tích đánh giá kết quả của từng học sinh (trong đó có học sinh khuyết tật). 2- Khi thiết kế bài dạy ngoài yêu cầu chung, giáo viên phải đánh giá được khả năng yêu cầu và nhu cầu của từng trẻ. Giáo viên cần trả lời các câu hỏi của từng trẻ. * Trẻ là ai? * Trẻ có cái gì? * Trẻ cần gì? + Trẻ là ai?: Chúng ta phải đánh giá đúng mức độ tật của trẻ, tình trạng sức khỏe của trẻ (thông qua việc tìm hiểu trẻ qua mọi hoạt động hoặc thông qua kết luận ytế ) Theo kinh nghiệm của bản thân thì nên sử dụng những bài tập, câu hỏi đơn giản và quan sát trực tiếp để phân tích và kết luận. + Trẻ có cái gì? Qua bài tập và câu hỏi đơn giản phù hợp với trẻ để ta có thể phân tích và kết luận với bài học này, môn học này thì ta phải tìm hiểu: - Kiến thức trẻ đã có đến đâu? - Kỹ năng thể hiện như thế nào? Ở mức độ nào? - Thái độ đối với những tri thức đó? + Trẻ cần gì? Khả năng tiếp thu bài học của trẻ đến đâu thì ta đáp ứng cho trẻ đến đấy. Ví dụ: Khi dạy bài: Khái niệm về phân số (lớp 4) Đối với trẻ bình thường phải đọc, viết phân số chỉ ra được tạo của phân số. Còn đối với trẻ chậm phát triển trí tuệ mức độ nhẹ thì đọc được các số thập phân số đó. Với việc xác định như trên có ý nghĩa hết sức quan trọng cho việc xây dựng mục tiêu bài dạy phù hợp với trẻ. Đó chính là các cơ sở để thiết kế các hoạt động tạo ra hứng thú ca dễ dàng cho trẻ tham gia vào lĩnh vực tri thức, rèn luyện kỹ năng. Nếu xác định mục tiêu không đúng bài dạy sẽ rơi vào trình trạng “dạy lại” hoặc kiến thức quá tải, làm cho HS mất hứng thú, không phù hợp với khả năng do đó không đáp ứng được nhu cầu của trẻ. Bài học chỉ có hiệu quả khi mà tri thức mới tạo ra hứng thú, tạo cho trẻ có 10
- xúc cảm mạnh mẽ. Đó là những cái mà trẻ hiểu được, lĩnh hội được. 3- Xây dựng mục tiêu theo kiểu hành vi. Mục tiêu của bài dạy chính là cái đích về tri thức kỹ năng kỹ xảo, thái độ cần đạt được trong tiết học của học sinh. Với bài dạy thông thường việc xác lập những kiến thức, kỹ năng cơ bản của từng phần từng mục, từng tiết học mà môn học quy định là quan trọng và yêu cầu học sinh cần phải nắm được. Đối với mục tiêu của một giớ học, tiết học đối với trẻ chậm phát triển không phải dựa vào nội dung cơ bản của môn học quy định mà chủ yếu dựa vào khả năng, nhu cầu của trẻ có thể tiếp nhận ở môn học sau tiết học là gì? Điều đó có nghĩa giáo viên phải căn cứ vào khả năng của trẻ mà đáp ứng, để làm được điều đó ngoài việc xác định khả năng nhu cầu của trẻ giáo viên cần phải xây dựng mục tiêu bài dạy dưới dạng là hành vi của trẻ có nghĩa là sau một giờ học trẻ chậm phát triển trí tuệ làm được gì? Có những thao tác gì? Ví dụ: Bài so sánh hai phân số cùng mẫu số (lớp 4) Nếu là trẻ chậm phát triển trí tuệ giáo viên có thể cho các em nhận dạng và đọc được các dấu =; >; < qua các cặp phân số mà các bạn đã so sánh được. Việc xác định mục tiêu hành vi của trẻ chậm phát triển trí tuệ qua từng bài dạy giáo viên có thể sử dụng thang nhận thức của Bloom. ĐánhĐánh giá giá Tổng hợp Phân tích Hiểu TổngBiết hợp Đối với trẻ chậm phát triển trí tuệ chú yếu ở mức độ biết và trẻ ở mức độ biết và trẻ ở mức độ tật nhẹ thì mức độ hiểu + Mức độ biết: Là mức độ thấp: Trẻ nhớ lại, nhắc lại, gọi tên một cách máy móc. Ví dụ: Chỉ nhận ra các dấu =; >; < mà chưa hiểu sử dụng đúng các dấu đó. + Mức độ hiểu: Trẻ đã biết chuyển mức độ thông tin ra thành biểu tượng như: Sắp xếp lại, diễn tả, mô tả, giải thích hợp lại với nhau. 11
- Ví dụ: Trẻ có thể đưa ra các dấu =; >; < vào đúng vị trí của ví dụ sau: 2 5 3 3 Kiểu xác định mục tiêu hành vi trong mỗi bài dạy đối với trẻ khuyết tật là rất quan trọng. Đặc biệt nó lại càng có ý nghĩa đối với trẻ chậm phát triển trí tuệ. Điều này sẽ giúp giáo viên định hướng, định lượng được nội dung và các hoạt động cần thiết cho trẻ chậm phát triển trong giờ học. 4- Xây dựng nội dung và các hoạt động của thầy, của trẻ chậm phát triển trí tuệ Để tiến hành xây dựng các nội dung (tri thức) và các hành động học tập của trẻ chậm phát triển trí tuệ trong lớp hòa nhập một cách hợp lý, giáo viên cần căn cứ vào 3 điều kiện: - Điều kiện 1: Khả năng và nhu cầu của trẻ là thế nào? - Điều kiện 2: Trong bài học kiến thức, kỹ năng nào là trẻ tiếp nhận được, làm được? - Điều kiện 3: Đồ dùng học tập đáp ứng đến đâu? Đây chính là một quá trình đòi hỏi người giáo viên phải thực sự đầu tư suy nghĩ phải tìm tòi. Thậm trí còn phải sáng tạo ra nội dung hoạt động cho trẻ. Ví dụ: Trong bài: So sánh hai phân số cùng mẫu số: + Nếu trẻ chậm phát triển trí tuệ chưa nhận dạng được các con số thì chưa thể so sánh được. Vậy trong giờ học đó giáo viên cho trẻ đếm số phần băng giấy trong hai băng giấy đã được chia ra để trẻ so sánh số phần băng giấy nào (lấy đi) nhiều hơn. + Nếu trẻ nhận dạng được chữ số đơn giản thì giáo viên có thể cho trẻ tập 2 3 nhận dạng dấu trong mối quan hệ của phân số một cách máy móc như: 5 5 trên cơ sở chỉ biết 2 < 3. Việc xây dựng nội dung hoạt động bao giờ cũng liên quan tới phương pháp và phương tiện dạy học. Do đó người giáo viên cần phải lưu ý tới một số phương pháp đặc thù dạy trẻ khuyết tật đó là: - Phương pháp hoạt động trên đồ dùng, đồ vật cụ thể: Vật thật, vật thay thế, sơ đồ tranh ảnh. - Phương pháp lặp đi, lặp lại nhiều lần một vấn đề, một hoạt động. - Phương pháp ghi nhớ máy móc. Khi xây dựng nội dung và dự kiến các hoạt động giáo viên cần phải tính 12
- khoảng thời gian phù hợp với tình trạng sức khỏe của trẻ, phù hợp với hoạt động chung của cả lớp. Ngoài việc xây dựng các nội dung và dự kiến các hoạt động của thầy và trò trong nội tiết học, người giáo viên trong lớp hòa nhập có trẻ chậm phát triển trí tuệ phải xây dựng nội dung, phương pháp riêng có điều chỉnh cho phù hợp. Sự chuẩn bị đó hết sức tỉ mỉ chi tiết tới những hành động nhỏ của trẻ nhưng phải gắn vào hoạt động chung của lớp. Tránh một tình trạng do không cân đối nội dung hoạt động của trẻ khuyết tật với nội dung của lớp học, không kết hợp thời gian học tập chung và thời gian tổ chức cả biệt hóa đã dẫn tới hoặc bỏ mặc hoạt động của trẻ khuyết tật hoặc thả nổi hoạt động của lớp. Mục đích xây dựng nội dung và dự kiến hoạt động của thầy và trò là làm cho giờ học hòa nhập diễn ra một cách bình thường trong đó vẫn đảm bảo lợi ích của tập thể lớp và đảm bảo lợi ích của trẻ khuyết tật. Để làm được điều kể trên thì trước hết người giáo viên phải thể hiện được kế hoạch bài dạy và sau đó là nghệ thuật tổ chức giờ học của giáo viên. 5- Xây dựng câu hỏi, bài tập và các tình huống sư phạm - Khi xây dựng câu hỏi, bài tập và tình huống sư phạm trong dạy học trẻ khuyết tật cần đảm bảo các nguyên tắc. + Câu hỏi, bài tập, tình huống phải phù hợp với khả năng của trẻ. + Câu hỏi phải liên quan đến tri thức của bài dạy. + Trẻ phải đủ thời gian để giải quyết câu hỏi, bài tập, tình huống - Trong khi xây dựng và thiết kế bài dạy, nhất là với bài dạy theo hướng hợp tác nhóm và có học sinh khuyết tật, nhất thiết mỗi nội dung, mỗi hoạt động giáo viên phải dự kiến, dự báo phần nào học sinh sẽ mắc, phần hoạt động bào cần điều chỉnh, củng cố, mở rộng hoặc khắc sâu. Mỗi một nội dung một hoạt động như vậy giáo viên cần dự kiến và xây dựng một số câu hỏi, bài tập và tình huống phụ. Chính những câu hỏi phụ này sẽ giúp cho giáo viên giải quyết các vấn đề trong quá trình tổ chức lớp học. - Điều chỉnh các hoạt động trong lớp. - Kiểm tra nhận thức của học sinh đặc biệt là học sinh khuyết tật. - Mở rộng kiến thức, đào sâu kiến thức cho học sinh khá. - Tạo ra thái độ học tập, hứng thú nhận thức cho học sinh cả lớp. 13
- 6- Xây dựng cách đánh giá kết quả học tập đối với trẻ chậm phát triển trí tuệ - Việc đánh giá kết quả học tập cho trẻ nói chung sau mỗi bài học cần phải tiến hành thường xuyên và liên tục thì việc đánh giá kết quả học tập cho trẻ khuyết tật càng phải tiến hành thường xuyên và liên tục hơn trong quá trình tiến hành dạy học của từng tiết học. - Việc đánh giá học tập của trẻ khuyết tật không được cứng nhắc mà phải dựa vào những gì mà trẻ đã có trẻ đã tiến bộ với chính bản thân của trẻ, trẻ tham gia vào mọi hoạt động ra sao? - Việc đánh giá ấy không chỉ là công việc của người giáo viên mà cần phải coi trọng sự đánh giá của bạn bè đó là sự cổ vũ, động viên khuyến khích để trẻ thấy mình được hòa đồng trong mọi hoạt động của lớp, của bạn bè - Việc đánh giá kịp thời sẽ là điều kiện tốt giúp trẻ tích cực tham gia vào hoạt động học tập Kết hợp chặt chẽ 6 biện pháp cơ bản ở trên khi thiết kế bài dạy đối với trẻ chậm phát triển trí tuệ, chắc chắn người giáo viên sẽ có một giờ dạy học có hiệu quả. Phần 3 : Hiệu quả của sáng kiến Qua một quá trình nghiên cứu và thực hiện “Thiết kế bài dạy đối với trẻ chậm phát triển trí tuệ trong lớp hòa nhập” tôi đã áp dụng ở lớp 4A trường tiểu học Khải Xuân từ tháng thứ hai năm học 2014- 2015 (Sĩ số: 29 em trong đó em Vi Đức Thịnh là trẻ chậm phát triển trí tuệ) tôi nhận thấy bước đầu đạt một số kết quả. 1- Trẻ (chậm phát triển trí tuệ) thích đi học, được thể hiện qua bảng sau: Tổng Số buổi đi học Số buổi nghỉ Lí do nghỉ học Tháng số buổi học học TS % TS % 2 36 20 55.6 16 44.4 Bị ốm, chưa thật hứng thú khi đi học 3 36 25 69.4 11 30.6 Chưa thật hứng thú khi đi học 4 36 34 94.4 2 5.6 Bị ốm 5 36 36 100 0 0 14
- 2. Đánh giá về mức độ đạt được của em Vi Đức Thịnh theo mục tiêu đã xây dựng ở kế hoạch giáo dục cá nhân( học kì I trong năm học) Nội dung Mức độ đánh giá Lí do đánh giá Đã bắt đầu thích đi học, khá hứng thú Kiến thức Đạt mục tiêu khi tham gia các hoạt động ở các môn học, đạt yêu cầu về kiến thức các môn học.( theo mục tiêu riêng) Thích tham gia các hoạt động học tập Kĩ năng xã Đạt mục tiêu và các hoạt động khác: Biết bày tỏ với hội bạn, thầy cô khi gặp khó khăn, khi vui, gần gũi với bạn, tự tin khi giao tiếp Đã có khả năng ghi nhớ kiến thức đơn Phục hồi Đạt mục tiêu giản trong học tập, biết vận dụng kĩ chức năng năng giao tiếp, quan hệ với mọi người Khả năng ghi nhớ duy trì khá ổn định Qua bảng theo dõi số buổi học trẻ đến trường và bảng nhận xét về kiến thức; kĩ năng xã hội; phục hồi chức năng ở trên tôi nhận thấy, trẻ chậm phát triển trí tuệ đã thích được đến trường, đến lớp, thích được học tập. Số buổi trẻ đi học tháng sau cao hơn tháng trước và tháng học thứ 5 trẻ đã đi học đầy đủ. Điều đó tôi đã khẳng định được quá trình lên lớp của mình đáp ứng được nhu cầu và sở thích của trẻ. Mà quá trình lên lớp thành công là do quá trình thiết kế bài dạy cho trẻ chậm phát triển trí tuệ đạt hiệu quả. 3- Thiết kế bài dạy của tôi được Ban giám hiệu, được tổ chuyên môn đánh giá cao qua các buổi thăm lớp dự giờ, thiết kế bài dạy của tôi được đưa ra bàn bạc và trao đổi về mẫu bài dạy có hiệu quả cho GV có trẻ chậm phát triển trí tuệ cùng học tập. 4- Giờ dạy của tôi đa số đạt kết quả là giờ dạy tốt và có hiệu quả cao đối với học sinh nói chung và trẻ chậm phát triển trí tuệ nói riêng. Qua bảng kết quả học tập của em Thịnh trong học kì I năm học 2014- 2015 và các thành công nêu trên, tôi nhận thấy quá trình thiết kế và thực hiện thiết kế bài dạy của tôi đã phần nào hiểu được năng lực của trẻ và đã biết điều 15
- chỉnh kịp thời với mức độ nhận thức của trẻ chậm phát triển trí tuệ. Vì vậy kết quả nhận thức của trẻ qua các bài học, tiết học của ngày sau hiệu quả hơn ngày trước và kết quả tháng sau cao hơn rõ rệt so với tháng trước. - Trẻ khó khăn về học mạnh dạn hơn, tự tin hơn khi thấy mình được tham gia vào quá trình học tập, được thầy cô và bạn bè khen ngợi và tuyên dương. Ngoài việc nâng cao hiệu quả cho trẻ chậm phát triển trí tuệ, áp dụng thực hiện thiết kế bài dạy đối với trẻ khó khăn về học còn nâng cao hơn về chất lượng đại trà. Với những thành công khi thực hiện thiết kế bài dạy cho trẻ chậm phát triển trí tuệ ở trên đã góp phần không nhỏ trong việc giáo dục trẻ hòa nhập ở trường tiểu học Khải Xuân trong học kì I năm học 2014- 2015 và chắc chắn sẽ là bài học kinh nghiệm của bản thân được áp dụng tốt hơn cho những năm học tiếp theo. 16
- III. KẾT LUẬN 1- Kết luận : Mô hình dạy học trẻ khuyết tật hòa nhập trong môi trường phổ thông đã và đang trở thành xu thế thất yếu của thời đại và được xã hội rất quan tâm. Bởi vì mô hình này vừa thể hiện tính khoa học vừa thể hiện tính nhân đạo và nhân văn sâu sắc. Tuy nhiên nếu áp dụng mô hình này chúng ta phải có sự thay đổi về quan điểm, cách thức tổ chức của mô hình giáo dục truyền thống “mô hình thầy giáo là nhân vật trung tâm” sang mô hình giáo dục “lấy người học làm trung tâm” chúng ta phải thực hiện một quá trình dạy học đa trình độ, đa phương pháp và phát huy cao độ tính tích cực của học sinh. Để quá trình dạy học này có hiệu quả thì công tác chuẩn bị bài dạy của giáo viên là hết sức quan trọng. Trong sáng kiến này chúng tôi chỉ đề cập tới quá trình thiết kế bài dạy có hiệu quả đối với trẻ chậm phát triển trí tuệ trong lớp hòa nhập, một đối tượng cực kỳ khó khăn trong dạy học. Việc nghiên cứu và thực hiện sáng kiến này giúp tôi tiếp cận và nắm vững hơn về phương pháp nghiên cứu khoa học, có điều kiện tham khảo nghiên cứu tài liệu, nắm bắt được thực tế giúp tôi được nhiều kiến thức bổ ích về phương pháp thiết kế và dạy trẻ chậm phát triển trí tuệ có hiệu quả. Việc tìm hiểu thực hiện sáng kiến nghiên cứu khoa học còn giúp tôi có được phương pháp tìm hiểu nhu cầu, sở thích và năng lực của trẻ khuyết tật nói chung, việc tiếp cận thực tế với trẻ một cách khái quát hóa. Sáng kiến kinh nghiệm này được thực hiện qua thực tế quá trình tôi dạy và thiết kế bài dạy đối với trẻ chậm phát triển trí tuệ. Bên cạnh đó còn được ban giám hiệu, tổ chuyên môn, các đồng chí, đồng nghiệp giúp đỡ nhiệt tình. Sáng kiến kinh nghiệm này mới chỉ là kết quả ban đầu trong quá trình thực hiện một mô hình giáo dục hòa nhập. Vì điều kiện thời gian và kinh nghiệm có hạn tôi nghĩ những tổng kết kinh nghiệm trên không tránh khỏi sai sót và chưa đáp ứng hết được yêu cầu để áp dụng dạy học có hiệu quả đối với trẻ chậm phát triển trí tuệ. Với thiện ý của người làm công tác giáo dục hòa nhập tôi tiếp tục áp dụng có hiệu quả sáng kiến này, hy vọng đây là những bước đi vững chắc trên con đường đổi mới giáo dục mà tôi cùng các đồng nghiệp nghiên cứu và thực hiện. 17
- 2- Những ý kiến đề xuất: 2.1. Đối với nhà trường: Không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn cho giáo viên dạy lớp hòa nhập ở trường tiểu học qua các lớp bồi dưỡng, có chính sách khuyến khích cho giáo viên dạy lớp hòa nhập để tạo điều kiện giúp họ có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm khi giảng dạy ở lớp có học sinh hòa nhập. Cần trang bị cơ sở vật chất, thiết bị dạy học cần thiết để phục vụ dạy trẻ khuyết tật nói chung đạt hiệu quả. 2.2. Đối với giáo viên: Cần có sự trau dồi nghiên cứu nâng cao trình độ chuyên môn tích lũy kinh nghiệm trong quá trình dạy trẻ hòa nhập nói chung. Cần phát huy hết khả năng trách nhiệm và lòng nhiệt tình của thầy, quan tâm sâu sắc đến trẻ khuyết tật. 2.3. Đối với phụ huynh học sinh: Cần kết hợp chặt chẽ với nhà trường để tạo thành một cộng đồng giáo dục trẻ hòa nhập đạt hiệu quả cao nhất trong mô hình giáo dục mới hiện nay. Trên đây là một số kinh nghiệm “Thiết kế bài dạy có hiệu quả đối với trẻ chậm phát triển trí tuệ” mà bản thân tôi đã đúc kết và triển khai thực hiện bước đầu có hiệu quả. Song, bên cạnh đó vẫn còn có những hạn chế nhất định. Kính mong quý đồng nghiệp đóng góp để công tác giáo dục hòa nhập tại đơn vị hoàn thiện hơn, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về sự nghiệp giáo dục trong thời kỳ đổi mới. Khải Xuân, tháng 3 năm 2015 Người thực hiện Trần Phương Lan ĐÁNH GIÁ CỦA HĐKH CẤP TRƯỜNG 18
- TÀI LIỆU THAO KHẢO 1- “Luật Giáo dục”- Nhà xuất bản chính trị Quốc gia - Hà Nội - 2006. 2. -“Luật Bảo vệ ,Chăm sóc và Giáo dục trẻ em”- Nhà xuất bản chính trị Quốc gia - Hà Nội - 2007. 3- “Giáo trình cao đẳng sư phạm- đào tạo giáo viên Tiểu học- Sư phạm tật học - giáo dục hòa nhập” - Nhà xuất bản chính trị quốc gia- Hà Nội -1999. 4- “Hỏi- đáp về giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở Việt Nam”- Nhà xuất bản chính trị quốc gia- Hà Nội -1999. 5- “Nguyễn Ngọc Bảo và Hà Thị Đức”- “Hoạt động dạy học- giáo trình đào tạo giáo viên CĐSP” - Nhà Xuất bản giáo dục - Hà Nội -2000. 6- “Phạm Minh Mục- Vương Hồng Tâm”- “Cẩm nang xây dựng và thực hiện kế hoạch bài dạy cho trẻ chậm phát triển trí tuệ”- Nhà Xuất bản giáo dục - Hà Nội -2002. 7- Dạy học hòa nhập trẻ khó khăn về học có hiệu quả- Tài liệu bồi dưỡng giáo viên. 8- “Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở Tiểu học” - Tài liệu bồi dưỡng giáo viên. 19

