Sáng kiến kinh nghiệm "1 Số kinh nghiệm về công tác tự làm đồ dùng dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trẻ khuyết tật học hòa nhập" - Trần Thị Kim Tuyến
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm "1 Số kinh nghiệm về công tác tự làm đồ dùng dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trẻ khuyết tật học hòa nhập" - Trần Thị Kim Tuyến", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.
File đính kèm:
sang_kien_kinh_nghiem_1_so_kinh_nghiem_ve_cong_tac_tu_lam_do.doc
Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm "1 Số kinh nghiệm về công tác tự làm đồ dùng dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trẻ khuyết tật học hòa nhập" - Trần Thị Kim Tuyến
- MỤC LỤC Trang MỤC LỤC I. Đặt vấn đề:.................................................................................................11 II. Giải quyết vấn đề:....................................................................................34 Phần 1: Thực trạng của vấn đề: .....................................................................54 Phần 2: Các biện pháp đã thực hiện để giải quyết vấn đề .............................55 Phần 3: Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm: ..............................................812 III. Kết luận và kiến nghị: ...........................................................................915 [ 1. Kết luận: .....................................................................................................915 2. Kiến nghị:...................................................................................................915 TÀI LIỆU THAM KHẢO: ..............................................................................1117
- I. ĐẶT VẤN ĐỀ: Thực hiện quyết định số 23 của Bộ GD& ĐT về giáo dục hoà nhập dành cho người khuyết tật, tôi đã nhận thức được vai trò, trách nhiệm của người giáo viên trong công tác giáo dục trẻ khuyết tật. Việc giáo dục một đứa trẻ bình thường cho nên người, biết giao tiếp, học tập, hòa nhập với xã hội đã khó huống chi đây là các em học sinh khuyết tật. Các em vẫn cảm nhận được tình yêu thương, sự quan tâm chăm sóc, bầu không khí thân thiện mà cha mẹ, thầy cô, bạn bè và cộng đồng dành cho mình bằng những giác quan lành lặn còn lại. Vì thế, nhu cầu này đòi hỏi nhà trường nói chung và giáo viên nói riêng cũng phải tích cực trong giảng dạy và tự tìm tòi sáng tạo, một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trẻ khuyết tật là việc làm đồ dùng dạy học cho mỗi tiết dạy nhằm đáp ứng nhu cầu thực tế của đơn vị trong năm học và theo tinh thần cuộc vận động “Mỗi thầy cô giáo là tấm gương tự học, sáng tạo”. Để thực hiện mục tiêu giáo dục hoà nhập cho người khuyết tật, giúp trẻ khuyết tật được hưởng quyền học tập bình đẳng như những trẻ khác, mỗi trường học, mỗi người làm công tác giáo dục cần xây dựng kế hoạch, nghiên cứu, để tìm ra phương pháp dạy học phù hợp với nội dung, chương trình, phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ khuyết tật. Một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trẻ khuyết tật hoà nhập là việc sử dụng đồ dùng dạy học trong các tiết học. Đồ dùng dạy học là một yếu tố không thể thiếu trong qua trình dạy 1
- học. Nó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, giúp học sinh có hứng thú học tập, lĩnh hội tri thức tốt hơn, nhanh hơn. Đồ dùng dạy học đảm bảo được các thông tin chủ yếu về các hiện tượng, sự vật liên quan đến nội dung bài học. Nó đảm bảo tính trực quan, tạo cho học sinh khả năng tiếp cận nội dung bài học, đồng thời nó tạo điều kiện cho học sinh tự lực chiếm lĩnh kiến thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo. Đặc biệt đối với trẻ khuyết tật, đồ dùng dạy là con đường giúp trẻ khuyết tật khắc phục những đặc điểm khó khăn của mình để thể tham gia vào các hoạt động học tập. Đặc trưng của trẻ khuyết tật là chậm nhớ, mau quên, ghi nhớ một cách máy móc nên việc việc sử dụng đồ dùng dạy học trong các tiết học lại càng quan trọng. Đồ dùng dạy học kích thích khả năng nhận thức của trẻ khuyết tật là điều kiện tiên quyết để trẻ tham gia vào các hoạt động học tập. Xuất phát từ tầm quan trọng của đồ dùng dạy học trong các tiết học và các điều kiện khách quan của trường, tôi thiết nghĩ việc tự làm đồ dùng dạy học là rất cần thiết đối với bậc tiểu học nói chung và đối với trẻ khuyết tật nói riêng. Bởi vậy, trong những năm qua, trường Tiểu học Đồng Xuân phát động phong trào tự làm đồ dùng dạy học cho học sinh nói chung và cho trẻ khuyết tật nói riêng và được các đồng chí giáo viên nhiệt tình hưởng ứng. Qua thực tế dạy học sinh khiếm thị học hòa nhập từ năm học 2013 - 2014 đến nay, tôi rất băn khoăn và trăn trở: “ Làm thế nào để giúp em học sinh khiếm thị học hòa nhập của lớp mình yêu thích các môn học? Giúp em có điều kiện tiếp cận với vẻ đẹp của con người, của cảnh vật, thiên nhiên đất nước? Giúp em có cơ hội bộc lộ cảm xúc của cá nhân, mở rộng tâm hồn và phát triển nhân cách cho em?”. Trả lời câu hỏi này, ngay từ đầu năm học 2013 - 2014, nhận nhiệm vụ chủ nhiệm lớp 4A và được phân công dạy học sinh khiếm thị học hòa nhập. Tôi đã cố gắng dùng mọi khả năng và kinh nghiệm của mình để tìm tòi, sáng tạo, làm ra các đồ dùng dạy học đơn giản, dễ kiếm, phù hợp cho mọi đối tượng học sinh 2
- lớp tôi đặc biệt cho học sinh khiếm thị. Trong khuôn khổ bài viết này, tôi mạnh dạn trình bày “ Một số kinh nghiệm về công tác tự làm đồ dùng dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trẻ khuyết tật học hòa nhập ”.” với hy vọng bạn bè đồng nghiệp tham khảo, vận dụng vào công tác giảng dạy của mình. 3
- II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ: Phần 1: Thực trạng của vấn đề Trường tiểu học Đồng Xuân hàng năm có trên 500 em học sinh tiểu học trong đó có khoảng từ 8 đến 11em khuyết tật ở các dạng tật khác nhau và độ tuổi khác nhau từ 6 đến 11 tuổi, chúng tôi đã huy động được 100% tổng số trẻ khuyết tật trong độ tuổi đến lớp. Đây là một tỷ lệ rất cao so với bình quân chung của toàn huyện. Học sinh chủ yếu là con em của những người nông dân thuần tuý nên các em có tính cần cù, tiết kiệm, các em chịu khó sưu tầm các vật liệu làm đồ dùng học tập. Trường có 24 giáo viên, đa số giáo viên của trường là người địa phương, rất tâm huyết với nghề. Có lòng nhân hậu, yêu thương học sinh. Thông cảm với nỗi bất hạnh của học sinh khuyết tật. Nhận thức được việc giáo dục trẻ khuyết tật là trách nhiệm, nghĩa vụ của toàn xã hội và cộng đồng, là một nhiệm vụ mà ngành giáo dục phải phấn đấu nhằm thực hiện đúng pháp luật của nhà nước và công bằng giáo dục. Để nâng cao chất lượng giáo dục trẻ khuyết tật, giáo viên phải lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với đối tượng, trong đó có việc sử dụng thiết bị dạy học và sự cần thiết phải bổ sung thêm thiết bị dạy học tự làm. Các ban ngành, đoàn thể trong xã luôn quan tâm đến phong trào giáo dục. Các cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương, phụ huynh học sinh, các nhà hảo tâm, các doanh nghiệp đóng trên địa bàn quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trường học khang trang, bàn ghế đầy đủ đúng quy cách tạo điều kiện thuận lợi cho các em học tập và vui chơi. Trong những năm qua, trường có phong trào làm đồ dùng dạy học rất sôi nổi. Đặc biệt, năm học 2014 - 2015, trường đã có một số bộ đồ dùng dự thi giáo viên giỏi cấp huyện . Phát huy thành tích đã đạt được, công tác tự làm đồ dùng dạy học nhằm năng cao chất lượng giáo dục trẻ khuyết tật hoà nhập càng được hưởng ứng mạnh mẽ hơn. 4
- Số học sinh khuyết tật của trường có độ tuổi không đồng đều, được xếp vào các khối khác nhau và chia ra các dạng tật khác nhau nên yêu cầu về phương pháp giảng dạy, đồ dùng và phương tiện dạy học khác nhau đòi hỏi giáo viên phải có nhiều loại đồ dùng trong một tiết học. Đa số các đồng chí giáo viên dạy trẻ khuyết tật là các đồng chí giáo viên chủ nhiệm lớp, ngoài việc giảng dạy trên lớp các đồng chí còn có nhiều công việc khác liên quan đến công tác chủ nhiệm, vì vậy thời gian đầu tư cho việc làm đồ dùng dạy học còn rất hạn chế. Do điều kiện kinh tế còn khó khăn, ngân sách đầu tư cho việc làm đồ dùng dạy học cũng hạn hẹp, nên nhiều ý tưởng làm những bộ đồ dùng mang tính hiện đại, quy mô chưa được thực hiện. Tuy cơ sở vật chất được đầu tư đủ nhưng các thiết bị dạy học còn đơn điệu chưa đảm bảo được yêu cầu giáo dục hiện nay do đó có ảnh hưởng đến vị trí ngồi và việc đi lại của những em học sinh khuyết tật đặc biệt. Tài liệu hướng dẫn giảng dạy và giáo dục trẻ khuyết tật còn hạn chế. Thiêt bị dạy học dành cho trẻ khuyết tật còn thiếu. Giáo viên không được đào tạo bài bản về dạy trẻ khuyết tật, mỗi năm chỉ có một số đợt tập huấn còn lại là do giáo viên tự học hỏi. Phần 2: Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề 1. Điều tra, phát hiện trẻ khuyết tật có trong địa bàn dân cư thuộc trách nhiệm quản lý của nhà trường, trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch, phân loại các dạng tật để có kế hoạch chuẩn bị các phương tiện dạy học phù hợp. 2. Cuối mỗi năm học, nhà trường kiểm kê lại số thiết bị được cấp, số thiết bị do nhà trường mua thêm, số thiết bị, đồ dùng dạy học do giáo viên tự làm sau đó lên kế hoạch cụ thể, phát động phong trào tự làm đồ dùng dạy học cho năm học mới tới tất cả giáo viên và học sinh. Chỉ tiêu trong năm học này mỗi thầy cô giáo có ít nhất 1 đồ dùng dạy học tự làm cho học sinh, không làm những đồ dùng đã có, đã làm. 5
- Để đảm bảo có đồ dùng, phương tiện dạy học cho mọi đối tượng học sinh và cho từng dạng trẻ khuyết tật, hàng năm nhà trường xây dựng kế hoạch cho công tác tự làm đồ dùng dạy học thật chi tiết, cụ thể. Xác định rõ mục tiêu, nội dung công việc, có phân công nhiệm vụ rõ ràng. 3. Thành lập đội ngũ cốt cán phụ trách thiết bị dạy học bao gồm Ban Giám hiệu, tổ trưởng các tổ, giáo viên cốt cán của trường. Các thành viên trong bộ phận này đều có kế hoạch về công tác tự làm đồ dùng dạy học. Kế hoạch phải chi tiết, dựa trên kế hoạch chỉ đạo chung của nhà trường. Mỗi thành viên trong bộ phận này có trách nhiệm triển khai kế hoạch, nội dung, công việc tự làm đồ dùng đến từng giáo viên trong tổ, khối. Trong các buổi sinh hoạt chuyên môn, đồng chí phụ trách thiết bị hướng dẫn, tư vấn thêm cho giáo viên về cách sử dụng thiết bị khi dạy trẻ khuyết tật ở các dạng, đặc biệt là trẻ khiếm thị. Thống nhất và chọn ra phương pháp dạy học tích cực và thích ứng đối với từng môn học, từng thể loại bài giảng. Trên cơ sở đó xác định phương pháp, yêu cầu, thiết bị chủ yếu cho mỗi bài giảng. Tổ chức dạy mẫu để giáo viên trong trường học tập cách sử dụng đồ dùng trong các tiết dạy trẻ khuyết tật đạt hiệu quả cao. Hàng tháng tổ chức họp tổ chuyên môn thảo luận về việc tự làm và sử dụng đồ dùng dạy học trong từng môn học, từng dạng trẻ khuyết tật để rút kinh nghiệm và biểu dương những đồng chí có ý tưởng sáng tạo về đồ dùng tự làm. Trao đổi kinh nghiệm sử dụng đồ dùng dạy học trong các tiết học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trẻ khuyết tật hoà nhập. Tổ chức tổng kết công tác tự làm đồ dùng dạy học theo đợt thi đua. Đội ngũ cốt cán của trường thống kê về số lượng đồ dùng tự làm và thẩm định về hiệu quả sử dụng đồ dùng đó trong dạy học, sau đó xếp loại đồ dùng và đánh giá thi đua theo định kỳ như đánh giá chất lượng dạy học. Hàng năm tổ chức thi đồ dùng dạy học tự làm, viết sáng kiến kinh nghiệm về công tác tự làm đồ dùng dạy học cho trẻ khuyết tật có giải thưởng để khuyến khích, động viên những đồng chí có đồ dùng tự làm 6
- và sáng kiến kinh nghiệm về công tác tự làm đồ dùng dạy học cho trẻ khuyết tật đạt kết quả tốt. Đưa công tác tự làm đồ dùng dạy học vào một trong những tiêu chí cơ bản để đánh giá thi đua cho mỗi đồng chí giáo viên. Đội ngũ cốt cán phối hợp với các tổ chức Đoàn, Đội tuyên truyền về mục đích sử dụng thiết bị dạy học phục vụ cho các hoạt động giáo dục và dạy học trẻ khuyết tật từ đó tất cả mọi thành viên trong hội đồng nhà trường có ý thức bảo quản, sủ dụng có hiệu quả thiết bị dạy học đồng thời phát động học sinh tích cực tìm kiếm, sưu tầm, các đồ dùng dạy học cho các bạn khuyết tật. 4. Cùng các đồng chí giáo viên thực hiện việc sử dụng đồ dùng theo một nguyên tắc cơ bản. Sử dụng đúng mục đích, đúng chỗ, đúng lúc. Đảm bảo phù hợp với nhu cầu, hứng thú, và đặc điểm hoạt động nhận thức của từng dạng trẻ khuyết tật. Đồ dùng dạy học chỉ có hiệu quả khi trẻ khuyết tật thích thú khám phá nhận thức với đồ dùng đó. Căn cứ vào đặc điểm trẻ khuyết tật của trường, chúng tôi phân loại trẻ khuyết tật của trường thành 4 nhóm chính là: + Trẻ chậm phát triển trí tuệ. + Trẻ khiếm thị. + Trẻ khiếm thính. +Trẻ khó khăn vận động. - Đối với trẻ chậm phát triển trí tuệ, đồ dùng dạy học cho các em cũng như đồ dùng cho học sinh phát triển bình thường, nhưng tôi chú ý nhiều hơn về tính thẩm mỹ nhằm cuốn hút các em vào hoạt động học tập. Môn toán: Để giúp các em học toán có hiệu quả, cần chú ý đến các loại vật liệu, thiết bị và đồ dùng học toán. Đối với học sinh lớp 1, đa số các em nắm được khái niệm thông qua việc thực hành, các em cần có nhiều cơ hội để khám phá các khái niệm này bằng cách sử dụng nhiều vật liệu, đồ dùng cụ thể qua đó giúp các em phát triển kỹ năng học toán cơ bản và hỗ trợ việc học tập tích cực trong dạy và học. 7
- Các vật liệu và đồ dùng trong môn toán lớp 1: Đồ dùng dạy phần số: thường là các băng số. Bộ thẻ số được làm bằng bìa, vòng xoay số để dạy học sinh đếm và chơi trò chơi. Que tính bằng nhựa, hoặc bằng đũa tre để thực hiện các phép tính và giá trị các hàng, các bộ trò chơi ghép hình cua, câu cá Môn Tiếng Việt: Ngoài những bức tranh trong SGK, tôi đã làm bộ tranh rời, tranh động bằng bìa cát-tông, nam châm, giấy màu. Cắt bìa thành những mô hình như ( ngôi nhà, đàn gà, gà mẹ, gà con, cây, một số con vật ) theo nội dung bài học. Với bộ tranh này chúng tôi có thể dùng để dạy một số bài của phân môn mỹ thuật, phân môn thủ công. Đặc biệt với bộ tranh này, chúng tôi còn giúp cho trẻ khiếm thị phát triển xúc giác thông qua việc sờ hình nổi. Thông qua việc sờ các mô hình, học sinh hình dung được cấu tạo bên ngoài của đồ vật, con vật từ đó các em dễ dàng hơn trong việc hình thành khái niệm. Trẻ chậm phát triển trí tuệ thời gian tập trung kém, các em ghi nhớ một cách máy móc, chủ yếu yếu trẻ ghi nhớ các dấu hiệu bên ngoài của sự vật tốt hơn thông tin bản chất, do các em hiểu bài chậm, mau quên nội dung bài vừa học. Nên khi giáo viên giảng dạy cần có nhiều đồ dùng trực quan hơn. Đồ dùng dạy học phải rõ ràng, chi tiết, bắt mắt trẻ, để trẻ được chơi, được thao tác trên đồ dùng mới có thể lôi cuốn trẻ tham gia vào hoạt động học tập. - Đối với trẻ khuyết tật khiếm thị: ngôn ngữ giữ vai trò đặc biệt trong quá trình tư duy. Tuy nhiên những thao tác tư duy diễn ra khá phức tạp, khó khăn. Vì thế học sinh khiếm thị nhận thức theo cảm tính (cảm giác, tri giác). Vì vậy ngoài việc giáo viên mô tả bằng lời thì đồ dùng dạy học rất cần thiết để hỗ trợ trong quá trình dạy học, đặc biệt là những mô hình, hình nộm, giống như thật, sẽ giúp các em nắm bắt bài tốt hơn. Đồ dùng của trẻ thường thực hiện trên mô hình nổi hoặc vật thật. Ví dụ: Bộ chữ nổi gồm các chữ cái và số để dạy học sinh khiếm thị, giáo viên hướng dẫn trẻ tập sờ các chấm nổi để làm quen với kí hiệu chữ nổi trên thẻ chữ, thẻ số Braille như: 8
- Môn Toán + Tiếng Việt: Tôi đã tham khảo và thiết kế bộ thẻ chữ, thẻ số. Tôi hướng dẫn trẻ sờ các hình nổi hoặc số nổi trên thẻ chữ, thẻ số. Khi đọc các chữ cái Tiếng Việt, trẻ sờ đọc đúng vị trí chấm nổi trong ô. Khi đọc các chữ cái Tiếng Việt (chữ a, b, c ), trẻ sờ đọc đúng vị trí chấm nổi trong ô trên cùng một dòng đếm xuôi, đếm ngược vị trí chấm nổi xem thẻ đó kí hiệu của âm nào (chữ a chấm 1; chữ b chấm 1,2; chữ c chấm 1,4 ). Dùng bộ thẻ chữ đó, trẻ nhanh thuộc bảng chữ cái và dễ dàng hơn khi viết chữ Braille. Môn Toán cũng giống như học chữ cái giúp trẻ nhanh thuộc những quy định của hệ thống ký hiệu Braille trong môn toán, từ đó các em tránh nhầm lẫn các số khi làm toán. Ngoài việc giáo viên kết hợp mô tả bằng lời thì đồ dùng dạy học để hỗ trợ là không thể thiếu đặc biệt đối với những vật mà có mô hình, hình nộm giống thật. Trong trường hợp từ “con thỏ” giáo viên nên sử dụng con thỏ bằng bông thì hiệu quả hơn khi dùng con thỏ bằng tấm bìa. Chọn vật liệu từ các hộp sữa; chai nước C2 đã hết hoặc từ các đĩa nhựa đã qua sử dụng, lõi giấy vệ sinh .để tạo nên những bông hoa, đu quay, những con vật dễ thương: con lợn, chim cánh cụt Qua đồ vật này giúp học sinh học đếm số lượng, nhận biết và gọi tên con vật, đồ vật, phân biệt màu sắc, . Tuy nhiên, dù sử dụng bất kì đồ dùng dạy học nào thì trẻ khiếm thị vẫn cần phải được tham gia hoạt động cùng với cả lớp khi thực hiện nội dung giáo dục. Tuyệt đối không tách trẻ ra khỏi tập thể lớp. 9
- Môn Kỹ thuật: một số dụng cụ làm nong thu nhỏ, bộ lắp ghép mô hình kỹ thuật đồ dùng phải phong phú như mô hình các vật thật có hình dạng giống hình vuông, hình tròn, hình tam giác .Chất liệu phải bằng nhiều loại khác nhau...; màu sắc cũng tương tự. Môn Khoa học, Lịch sử + Địa lý: Mô hình chưng cất nước lớp 5; mô hình sa bàn chiến thắng Điển Biên Phủ, mô hình đất nước Việt Nam nó giúp cho trẻ khiếm thị phát triển xúc giác thông qua việc sờ các mô hình nổi để hình dung được cấu tạo bên ngoài đồ vật, con vật từ đó các em dễ dàng hơn trong việc hình thành khái niệm. Môn thể dục: Do đặc điểm của học sinh lứa tuổi tiểu học tính hiếu động, ít tập trung, ít chú ý, nhất là khi lên lớp ngoài trời hay bị các yếu tố bên ngoài tác động làm ảnh hưởng. Trong tiết học thể dục không nhất thiết phải tuân theo quy định khuôn khổ mà phải luôn luôn thay đổi thêm vào một số tình tiết mới dễ gây 10
- hứng thú cho học sinh. Dụng cụ học tập rất quan trọng, nên áp dụng triệt để vì nó dễ tạo nên hưng phấn. Cho nên mỗi nội dung, mỗi tiết học, giáo viên nên thay đổi dụng cụ như: Bóng đá, bóng chuyền, ném bóng, nhảy dây... Đối với học sinh khuyết tật, không để các em nghỉ, mà giáo viên phải tổ chức riêng cho các em tập với cường độ nhẹ hoặc cho các bạn có sức khỏe tốt giúp đỡ các bạn yếu, giáo viên nên động viên, khích lệ các em này. Tạo điều kiện cho các em tham gia các trò chơi, các hoạt động thi đua hoặc áp dụng phương pháp tập luyện bằng cách “phục hồi chức năng” với hình thức nhẹ nhàng, nội dung phù hợp để các em này được hoạt động, tạo cho các em một tình thần thoải mái, vui vẻ phấn khởi tập luyện nâng cao sức khỏe cùng các bạn. - Đối với học sinh khiếm thính: học sinh quan sát sự vật hiện tượng bằng mắt nhanh hơn, chính xác hơn và toàn diện hơn học sinh bình thường. Vì vậy học sinh khiếm thính có thể nhận thức được thế giới xung quanh đầy đủ mặc dù trẻ không nghe, không nói được. Các em không thể hiểu, không thể nhận thức được bất cứ điều gì dù đó là đơn giản nếu không nhìn thấy tận mắt. Học sinh khiếm thính thường quan sát những điểm nổi bật của đồ dùng mà không quan sát theo một trình tự nhất định. Để học sinh khiếm thính nắm vững được kiến thức đòi hỏi giáo viên phải tích cực sưu tầm, làm ra những đồ dùng dạy học thật bắt mắt và sử dụng một cách linh hoạt thì giờ học mới đạt hiệu quả cao. Ngoài việc sử dụng tranh ảnh, vật thật, mô hình nổi như trẻ chậm phát triển trí tuệ và trẻ khiếm thị. Chúng tôi còn kết hợp bảng chữ cái ngón tay và thiết kế thêm một 11
- số dụng cụ để luyện hơi, luyện nghe cho các em nhằm giúp các em phát âm tốt hơn. Môn toán là một trong những môn tương đối thuận lợi trong việc nhận biết và tiếp thu kiến thức mới, giáo viên giảng dạy cũng dễ truyền đạt hơn những môn khác, đồ dùng trực quan thì có sẳn và dễ dàng tìm hơn so với một số môn khác. Giáo viên nắm bắt được nhu cầu của học sinh để nghiên cứu, thiết kế một số sản phẩm đạt hiệu quả cao để giảng dạy cho các em như từ tờ lịch cũ (tờ lịch phong cảnh) giáo viên có thể tận dụng được 2 mặt: Mặt sau (mặt trắng) giáo viên viết những nội dung bài học, công thức toán, học sinh làm bài thi đua theo nhóm, Mặt trước có phong cảnh thì giáo viên chọn cảnh phù hợp như cảnh vịnh Hạ Long, chùa Một Cột, ruộng bậc thang, biển để dạy các bài trong môn Tiếng Việt; Lịch sử và địa lý. Phần 3: Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm Bên cạnh sự truyền đạt của giáo viên thì khả năng tiếp nhận kiến thức của các em phụ thuộc rất nhiều vào đồ dùng dạy học và cách sử dụng chúng. Đối với bản thân tôi và hầu hết các giáo viên khác, khi thực hiện một tiết dạy trên lớp mà không có đồ dùng dạy học hoặc chỉ sử dụng đồ dùng dạy học hiện có thì dường như gặp một số vấn đề khó khăn như: Mất nhiều thời gian cho hoạt động dạy và học mà truyền đạt không hết nội dung; Giáo viên nói nhiều, giải thích nhiều mà không đạt hiệu quả; Học sinh thụ động, giờ học không sôi nổi. Các em hiểu bài chưa chính xác, ghi nhớ nội dung bài chưa tốt hoặc đồ dùng dạy học không phù hợp với đối tượng và dạng tật cũng làm cho các em khó khăn sâu được kiến thức. Vì vậy để khích thích khả năng nhận thức của các em, muốn tạo điều kiện cho các em tham gia vào các hoạt động học tập một cách hứng thú có tiến bộ và phát huy được khả năng của mình, đòi hỏi giáo viên giảng dạy phải tích cực sưu tầm, tự làm và sử dụng linh hoạt, hiệu quả đồ dùng dạy học. Từ năm học 2013- 2014 đến nay, mỗi năm học trường tôi có khoảng 9 đến 11 học sinh khuyết tật. Trong những năm học 2010 -2011 trở về trước, do chưa chú trọng đến công tác giáo dục trẻ khuyết tật, đồ dùng dạy học còn đơn điệu nên chất lượng giáo dục trẻ khuyết tật còn thấp. Tỷ lệ trẻ khuyết tật học hoà nhập chỉ đạt dưới 50% . Từ năm học 2012 - 2013, với tinh thần chỉ đạo của ban 12
- giám hiệu nhà trường, chú trọng đến công tác giáo dục trẻ khuyết tật hoà nhập, các đồng chí giáo viên luôn quan tâm đến nhu cầu học tập của trẻ khuyết tật, lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp với khả năng nhận thức của trẻ. Đặc biệt đã sử dụng đồ dùng dạy học đúng mục đích, đúng yêu cầu tiết học làm kích thích học sinh tích cực lĩnh hội kiến thức góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trẻ khuyết tật hoà nhập, trong 3 năm qua trường đã bổ sung thêm nhiều bộ thiết bị dạy học tự làm đơn giản nhưng có hiệu quả sử dụng cao, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trẻ khuyết tật hoà nhập . Qua các giờ học có ý nghĩa, có hiệu quả, các em được tham gia các hoạt động học tập cùng bạn bè, các em càng thấy mến trường, mến bạn hơn. Các em cảm nhận được niềm vui sau mỗi ngày đến trường, vì vậy tỷ lệ huy động trẻ khuyết tật học hoà nhập của trường tiểu học Đồng Xuân trong 3 năm qua đạt tỷ 100%. Đảm bảo duy trì sĩ số 100% từ đầu năm học đến cuối năm học. Số lượng trẻ khuyết tật học hoà nhập sau mỗi năm học tăng cụ thể là: Năm học Tổng số trẻ Số trẻ học Số trẻ được Tỷ lệ % khuyết tật hoà nhập lên lớp 2010 - 2011 2011 - 2012 2012- 2013 2013 - 2014 2014 - 2015 Từ những kết quả trên, chúng tôi thấy thiết bị dạy học là yếu tố rất quan trọng trong dạy học ở tiểu học, nhất là đối với học sinh khuyết tật. Nó không chỉ thực hiện chức năng minh hoạ mà còn là nguồn tri thức để học sinh khám phá và phát huy tính tích cực trong học tập. Đồ dùng dạy học là một trong những yếu tố không thể thiếu được trong các tiết học nó đảm bảo được các thông tin chủ yếu về các hiện tượng, sự vật liên quan đến nội dung bài học. Đồ dùng dạy học còn làm tăng hứng thú nhận thức của học sinh, đảm bảo cho học sinh lĩnh hội tốt nhất các biểu tượng, khái niệm, quy tắc, hình thành kỹ năng, kỹ xảo. Nếu đồ 13
- dùng dạy học đảm bảo tính trực quan nó tạo điều kiện mở rộng nội dung sách giáo khoa, giúp học sinh khả năng tiếp cận nội dung bài học. 14
- III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ: 1. Kết luận: Để góp phần vào phong trào làm đồ dùng dạy học cho học sinh khuyết tật và khắc phục những đồ dùng chưa đạt hiệu quả trong việc làm và sử dụng đồ dùng dạy học, tôi thiết nghĩ muốn đạt được điều trước hết cần căn cứ vào đặc điểm, quá trình nhận thức của từng đối tượng học sinh khuyết tật mà làm đồ dùng dạy học để giúp các em tiếp thu kiến thức dễ dàng hơn. Bên cạnh còn kết hợp với một số kinh nghiệm các giáo viên trong trường đã làm được một số đồ dùng dạy học và thực hiện có hiệu quả trong giảng dạy. Làm đồ dùng dạy học không phải làm trong một thời gian nhất định mà giáo viên phải xem đó là một việc làm thường xuyên trong quá trình giảng dạy của mình. Việc tận dụng các nguyên liệu sẵn có để làm đồ dùng dạy học sẽ giúp giáo viên tiết kiệm được chi phí dạy học tự làm sẽ tiết kiệm được nhiều thời gian, công sức và chi phí cho mỗi đồ dùng. Tuy nhiên khi lựa chọn vật liệu để làm đồ dùng dạy học phải đảm bảo an toàn cho học sinh. Để đảm bảo đồ dùng được tốt hơn và sử dụng được bền lâu, chúng ta nên ép plastic các thẻ tranh, thẻ chữ, thẻ số, thẻ màu, thẻ hình Khi đã làm xong đồ dùng dạy học, để tránh bị thất lạc giáo viên cần sắp xếp chúng thành một tập riêng vào mỗi bìa hồ sơ hoặc ta bấm lỗ và cài khuy lại, và phải ghi rõ tên đồ dùng để tiện cho việc sử dụng và cất giữ. 2. Những ý kiến đề xuất: Để nâng cao chất lượng giáo dục trẻ khuyết tật hoà nhập trong các nhà trường chúng tôi có một số ý kiến đề xuất như sau: Bộ Giáo dục cần hỗ trợ phương tiện, thiết bị dạy học phù hợp với các loại tật dành cho trẻ khuyết tật học hoà nhập ở các trường. Mở thêm các lớp tập huấn về giáo dục hoà nhập cho cộng đồng. Tổ chức giao lưu, học hỏi kinh nghiệm của những đơn vị điển hình trong và ngoài tỉnh để làm tốt công tác giáo dục trẻ khuyết tật hoà nhập. Nhà nước cần có chính sách động viên kịp thời cho giáo viên trực tiếp dạy học sinh khuyết tật học hoà nhập. 15
- Trên đây là một số kinh nghiệm về làm và sử dụng đồ dùng tự làm tôi đã thực hiện trong quá trình giảng dạy nhằm giúp cho học sinh khuyết tật học hòa nhập hoàn thành mục tiêu, kế hoạch giáo dục đã đề ra. Trong quá trình thực hiện tôi đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ song không tránh được những thiếu sót. Vậy tôi rất mong nhận được sự quan tâm, giúp đỡ và đóng góp chân thành của các cấp lãnh đạo, các đồng chí trong Ban giám hiệu nhà trường và bạn bè đồng nghiệp để tôi giảng dạy ngày một tốt hơn, góp một phần công sức nhỏ bé của mình nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy của Trường Tiểu học Đồng Xuân. Tôi xin chân thành cảm ơn! Người viết Trần Thị Kim Tuyến ĐÁNH GIÁ CỦA TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỒNG XUÂN ............................................................ 16
- TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Luật Giáo dục NXB chính trị Quốc gia - Hà Nội- 2006. 2. Luật Người khuyết tật ngày 17 tháng 6 năm 2010; 3. Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở Tiểu học ( tài liệu bồi dưỡng giáo viên) NXB Giáo dục - 2006. 4. Luật Bảo vệ , Chăm sóc và Giáo dục trẻ em NXB chính trị Quốc gia - Hà Nội - 2007. 5. Nghiên cứu tài liệu về “ Giáo dục hòa nhập học sinh khuyết tật”. 6. Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật khiếm thị ở Tiểu học ( tài liệu bồi dưỡng giáo viên) NXB Giáo dục. 7. Thông tư liên tịch số 42 ngaỳ 03/02/203 - Quy định chính sách về giáo dục đối với người khuyết tật. 17

