Sáng kiến kinh nghiệm "1 Số giải pháp giáo dục đạo đức với học sinh lóp chủ nhiệm' - Năm học 2022-2023 - Phan Thị Minh Tuyết

pdf 18 trang hanhan 07/10/2026 110
Bạn đang xem tài liệu "Sáng kiến kinh nghiệm "1 Số giải pháp giáo dục đạo đức với học sinh lóp chủ nhiệm' - Năm học 2022-2023 - Phan Thị Minh Tuyết", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfsang_kien_kinh_nghiem_1_so_giai_phap_giao_duc_dao_duc_voi_ho.pdf

Nội dung tài liệu: Sáng kiến kinh nghiệm "1 Số giải pháp giáo dục đạo đức với học sinh lóp chủ nhiệm' - Năm học 2022-2023 - Phan Thị Minh Tuyết

  1. MỤC LỤC STT Nội dung Trang 1 MỤC LỤC 1 2 I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 2 3 1. Xuất phát từ vị trí, vai trò của giáo viên chủ nhiệm: 2 4 2. Xuất phát từ thực tiễn tình hình lớp chủ nhiệm: 2 5 II. NỘI DUNG 3 6 1. Quy trình thực hiện 3 7 1.1. Tìm hiều về học sinh lớp chủ nhiệm: 3 8 1.2. Xây dựng kế hoạch và mục tiêu giáo dục đạo đức cho học 6 sinh trên các phương diện. 9 2. Giải pháp thực hiện 6 10 2.1. Sử dụng các phương pháp tích cực trong hoạt động giáo dục 6 đạo đức. 11 2.2. Giáo dục đạo đức phù hợp với hoàn cảnh, tính cách và đặc 8 điểm tâm sinh lý lứa tuổi (Giáo dục bằng tâm lí) 12 2.3. Giáo dục đạo đức cho học sinh bằng cách phối kết hợp chặt 10 chẽ các yếu tố giáo dục: Gia đình – Nhà trường – Xã hội. 13 2.4. Chú ý tới việc giáo dục đạo đức cho những học sinh đặc biệt. 11 14 III. KẾT QUẢ THỰC HIỆN 16 15 IV. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 17
  2. 2 I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1. Xuất phát từ vị trí, vai trò của giáo viên chủ nhiệm Giáo viên chủ nhiệm lớp là người vạch kế hoạch, tổ chức cho lớp mình thực hiện các chủ đề theo kế hoạch và theo dõi, đánh giá việc thực hiện của các học sinh. Giáo viên chủ nhiệm lớp chính là người trực tiếp, thường xuyên gần gũi với các em nhất. Bên cạnh những giờ dạy trên lớp giáo viên chủ nhiệm còn có những giờ chào cờ, giờ sinh hoạt hàng tuần để triển khai những công việc chung của trường, của lớp và để giáo dục đạo đức, nhân cách cho học sinh. Với nhiệm vụ và vai trò như thế, một lần nữa, có thể khẳng định, người giáo viên chủ nhiệm lớp chính là người rất quan trọng trong quá trình tổ chức, giáo dục, hình thành sự phát triển nhân cách, hình thành đạo đức của học sinh. Là giáo viên chủ nhiệm chắc chắn ai cũng muốn lớp mình có những thành tích xuất sắc, dẫn đầu trong các hoạt động của nhà trường. Ai cũng hiểu rằng nề nếp lớp là một yếu tố quyết định ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng học tập và việc hình thành nhân cách học sinh. Do đặc điểm tâm sinh lý của học sinh, lứa tuổi mà suy nghĩ của các em còn non nớt, nhận thức chưa cao chính vì thế các em có những hành vi thiếu chuẩn xác là điều không thể tránh khỏi. Lứa tuổi học sinh THCS đa phần đang ở độ tuổi giáp ranh giữa trẻ em và người lớn. Với những biến đổi về tâm sinh lí, sức khỏe, nhận thức... Lứa tuổi các em được phản ánh rõ qua những hiện tượng thực tế hàng ngày chúng ta thấy trong cuộc sống như: - Ở lớp học, trường học: Tình trạng học sinh vi phạm nội quy lớp, lười học, bạo lực học đường, đánh cãi, chửi nhau, thậm chí là không sợ thầy cô, phá phách cơ sở vật chất - Ở nhà và ngoài cuộc sống: Cãi bố mẹ, không chào hỏi người lớn, thậm chí là sa vào các tai tệ nạn xã hội... Để học sinh có thể học tập tốt đạt kết quả cao thì việc rèn đạo đức cho học sinh là vấn đề quan trọng hàng đầu vì chỉ khi học sinh có ý thức đạo đạo đức tốt thì các em mới thực hiện tốt được nề nếp và có ý thức học tốt mới có chất lượng cao trong học tập. 2. Xuất phát từ thực tiễn tình hình lớp chủ nhiệm Ở lứa tuổi học sinh THCS, đặc biệt là đối với học sinh lớp 7, lứa tuổi đang có sự mất cân bằng về mặt tâm sinh lí, việc các em mong muốn trở thành người lớn trong khi các em chưa có sự hiểu biết tương ứng, hoàn cảnh sống mỗi em cũng khác nhau, có em may mắn nhận được sự quan tâm kịp thời của cha mẹ khi ở trong
  3. 3 trạng thái mất cân bằng ấy, có em không được sự quan tâm đúng mức, có em thì lại được gia đình quá chiều chuộng... Khi được phân công chủ nhiệm lớp 7B, qua tìm hiểu tôi được biết các em rất “quậy”. Thật vậy, mặc dù các em rất đáng yêu, lanh lợi nhưng lại tùy tiện trong các hoạt động ở lớp. Từ tư thế ngồi, cách giơ tay phát biểu, trong học nhóm có nhiều em rất nghịch, hay chọc phá bạn, không nghiêm túc trong giờ học. Khi có mặt thầy cô thì các em tương đối trật tự nhưng khi giáo viên vừa quay lưng thì các em lại “lộn xộn”. Qua đó, cho thấy các em chỉ “sợ” cô chứ chưa nhận thức được việc mình làm. Qua biên chế lớp đầu năm trong lớp có tổng số 40 học sinh, trong đó có 8 em có học lực yếu, còn lại là trung bình không có khá giỏi. Mặt khác có nhiều học sinh trong lớp vẫn đa số là con em nông dân có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Một số học sinh thiếu thốn tình cảm (chỉ ở với mẹ hoặc bố, cha mẹ làm ăn xa, mồ côi): Em Chiến, Ngát, Liễu... Tuy phụ huynh rất quan tâm đến con em mình về việc học tập, nền nếp song vì bận làm công ty, làm đồng ruộng... nên nhiều gia đình không có thời gian để ý kèm cặp con em mình tốt nhất. Ở lứa tuổi các em cần có sự hỗ trợ, tư vấn của người lớn hay nói cách khác các em cần có sự quan tâm từ cha mẹ, thầy cô, bạn bè, các em rất cần đến chúng ta. Đây là thời gian vàng để giáo dục đạo đức cho các em. Muốn đạt được hiệu quả cao chúng ta cần có tâm huyết, năng động sáng tạo đồng thời cần có sự kiên trì. Suốt nhiều năm công tác và thực hiện nhiệm vụ này tôi luôn trăn trở với câu hỏi: Làm thế nào để xây dựng nền tảng đạo đức, nhân cách, giáo dục con người, phẩm chất cho các em học sinh? Đặc biệt là với các em lớp B, hầu hết các em có học lực trung bình và yếu, ý thức tổ chức kỉ luật cũng yếu, vì vậy để nâng cao được chất lượng giáo dục của lớp chủ nhiệm việc đầu tiên là phải giáo dục đạo đức cho các em. Bằng kinh nghiệm 8 năm làm công tác giáo viên chủ nhiệm tôi đã rút ra được cho bản thân những giải pháp cụ thể trong việc giáo dục, rèn luyện đạo đức học sinh và tôi đã gặt hái được một số thành công nhất định. Vì vậy, tôi xin chia sẻ nội dung: “Một số giải pháp giáo dục đạo đức với học sinh lớp chủ nhiệm”. II. NỘI DUNG 1. Quy trình thực hiện 1.1. Tìm hiều về học sinh lớp chủ nhiệm 1.1.1 Tìm hiểu hoàn cảnh Một lớp có bao nhiêu học sinh thì có bấy nhiêu hoàn cảnh gia đình và tính cách khác nhau. Có những em được sinh ra trong một gia đình hạnh phúc, điều kiện
  4. 4 kinh tế khá giả, cha mẹ luôn quan tâm, yêu thương chăm sóc con cái. Nhưng cũng có những em lại sinh ra trong một gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó nhăn, cha mẹ do phải kiếm sống nên thường xuyên đi làm ăn xa và không có thời gian quan tâm chăm sóc con cái. Điều các em cần nhất ở lứa tuổi này là được sống trong một gia đình hạnh phúc, cha mẹ luôn quan tâm, yêu thương và lo lắng cho con cái, luôn lắng nghe và thấu hiểu cho những tâm tư, nguyện vọng của con mình. Khi nhận lớp chủ nhiệm 7B, trong tuần đầu tôi đã tìm hiểu hoàn cảnh gia đình của từng em. Khi nắm bắt được kịp thời hoàn cảnh sống của học sinh, chắc chắn sẽ có biện pháp kết hợp với gia đình để cùng nhau đưa ra các biện pháp giáo dục phù hợp với học sinh. Tìm hiểu hoàn cảnh gia đình học sinh lớp 7B STT Đối tượng học sinh Số lượng 1 Khuyết tật 01 2 Nghèo 01 3 Cận nghèo 02 4 Mồ côi cha (mẹ) 03 5 Bố mẹ li hôn 01 6 Bố mẹ đi làm ăn xa, ở nhà với ông bà 11 7 Bố mẹ đi công ty 20 8 Bố mẹ làm tại nhà 9 1.1.2. Tìm hiểu về tâm sinh lý của học sinh Ở tuổi từ 12 - 15 này có nhiều biến đổi về tâm, sinh lí, đặc biệt là các em lớp 7. Đây là lứa tuổi mà các nhà tâm lí học gọi là lứa tuổi khó dạy bảo. Nhiều năm chủ nhiệm tôi nhận thấy đa số học sinh bắt đầu thay đổi tâm sinh lí từ lớp 7, ở tuổi này do các em đang bắt đầu dậy thì nên tâm sinh lí thay đổi rõ rệt. Nếu như ở lớp 6 các em vẫn còn tự giác, chăm chỉ và nghe lời thì đến lớp 7 các em đã bắt đầu thể hiện mình, muốn được người khác chú ý tới và biểu hiện ngay ở lời nói, hành động và việc làm của các em. Để khẳng định mình, các em dễ có những hành xử bộc phát, bất ngờ mà chính các em cũng chưa ý thức hậu quả sẽ như thế nào. Có những em nói tục, chửi thề một cách vô thức, do đã quen nghe và cảm thấy như vậy là hay, là sành điệu... Có nhiều em lại thấy ngại ngùng vì hình dáng của mình thay đổi, giọng nói thay đổi nên ngại giao tiếp, ngại tiếp xúc và sống khép mình không còn sôi nổi và hoạt bát như trước, nhưng có những em lại dễ nổi cấu, hay tức giận nên rất dễ gây gổ đánh nhau.
  5. 5 Vì vậy, một sự định hướng đúng đắn để giúp các em hình thành tính cách của mình sau này chính là giáo dục đạo đức ở độ tuổi này. 1.1.3. Tìm hiểu mối quan hệ bạn bè Bạn bè, những mối quan hệ trong lớp, ngoài lớp cũng là điều mà chúng ta cần quan tâm. Các em có thể tâm sự hàng giờ với bạn mà không bao giờ tâm sự với thầy cô về một vấn đề nào đó. Đa phần các em học sinh xem bạn bè mình như một chuyên gia tư vấn. Bạn bè xấu, tốt ảnh hưởng nhiều đến nhân cách của các em. Người xưa thường nói "Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng" điều này hoàn toàn không sai... vấn đề là chúng ta phải can thiệp một cách tế nhị, đúng lúc, kịp thời. Thầy cô, ngoài vai trò là người thầy chúng ta nên là người bạn tâm tình với các em, luôn lắng nghe những tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của các em. Thầy cô cần tạo ra môi trường học tập với tiêu chí “Học mà chơi, chơi mà học”, tạo điều kiện cho các em tham gia vào các hoạt động tập thể, tổ chức các sân chơi để các em có thể giao lưu học hỏi nhau, từ đó nảy sinh tình bạn tốt. Ví dụ: Trong đợt thi đua làm báo tường, thi văn nghệ chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam và trong các buổi lao động lớp, trong các buổi ngoại khóa. Giúp các em đoàn kết, gắn bó và hiểu nhau hơn. Hãy để các em phát triển tình bạn trong sáng, lành mạnh một cách tự do trong tầm kiểm soát chừng mực của người lớn. Vấn đề này cần có sự phối hợp của gia đình và nhà trường một cách chủ động. 1.1.4. Tìm hiểu sở thích, năng khiếu Học sinh nào cũng đều có một năng khiếu nhất định, năng khiếu này có thể do bẩm sinh, do rèn luyện. Nhiệm vụ của người thầy là thấy được năng khiếu của các em, tạo điều kiện phát huy sở trường của các em giúp các em có hứng thú hơn trong học tập, lấy đó làm động lực cho các em cố gắng hơn ở những mặt còn hạn chế. Có những học sinh thích lao động chân tay, khéo tay trong những hoạt động đòi hỏi sự tỉ mỉ, kiên trì nhưng lại học kém các môn cần sự tư duy. Có những học sinh thích văn nghệ, ca múa hát... Có những học sinh thích thể thao, võ nghệ... Hãy để cho các em có cơ hội thể hiện mình với các bạn và như vậy các em sẽ trở nên nổi bật với các bạn, đấy chính là động cơ thúc đẩy các em học tập tốt hơn nhằm không làm xấu đi hình ảnh của mình với các bạn. Ví dụ: Trong các đợt thi đua: Làm báo tường, thi văn nghệ chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam, Hội vui học tập nhân ngày thành lập Đoàn, Vẽ tranh tuyên truyền an toàn giao thông,.... các em có thể phát huy sở trưởng của mình. Như vậy, tạo ra những hoạt động ngoại khóa, những buổi sinh hoạt ngoài giờ lên lớp cũng chính là tạo ra những cơ hội cho các em có thể thể hiện tài năng của
  6. 6 minh, lấy lại sự tự tin với các bạn, khẳng định thế mạnh của mình để từ đó các em được nhận sự khuyến khích của mọi người xung quanh, các em sẽ cố gắng nhiều hơn ở các mặt còn yếu kém. 1.2. Xây dựng kế hoạch và mục tiêu giáo dục đạo đức cho học sinh trên các phương diện. Giáo viên triển khai đến học sinh mục tiêu giáo dục đức để học sinh thấy được trách nhiệm đối với bản thân mình, đối với thầy cô và đối với với tập thể. Để thực hiện được mục tiêu này cần cả một quá trình dài và phối hợp nhiều biện pháp. 2. Giải pháp thực hiện 2.1. Sử dụng các phương pháp tích cực trong hoạt động giáo dục đạo đức Giáo viên chủ nhiệm có thể sử dụng các phương pháp giáo dục khác nhau đối với từng đối tượng và từng hoàn cảnh.
  7. 7 Thông qua các tiết sinh hoạt theo chủ đề hoặc các buổi ngoại khóa, các phong trào của đoàn đội tạo hứng thú trong học tập cho các em và giúp các em có cái nhìn đúng đắn đẩy lùi hành động tiêu cực. Sinh hoạt theo chủ đề phòng chống tai nạn thương tích.
  8. 8 Trao đổi về kinh nghiệm học tập cùng bạn Hàng tháng tôi thường chọn ra một số em xuất sắc nhất biểu dương và khen thưởng. Biểu dương các bạn có thành tích tốt trong tháng. 2.2. Giáo dục đạo đức phù hợp với hoàn cảnh, tính cách và đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi (Giáo dục bằng tâm lí) Khi nắm bắt được hoàn cảnh gia đình của từng học sinh và đặc điểm tâm sinh lí của học sinh thì việc giáo dục đạo đức cho học sinh sẽ hiệu quả và đúng đối tượng. GVCN cần tạo đựơc mối quan hệ gần gũi với các em, thật sự là chỗ dựa đáng tin cậy sau cha mẹ của các em. Khi giao tiếp với các em ta phải luôn cởi mở, chân tình, vui vẻ dễ cảm hóa được các em, khi có được mối quan hệ tốt các em sẽ
  9. 9 thổ lộ những tâm tư tình cảm với GVCN mà không một chút ngần ngại. Những lời khuyên răn dạy bảo của chúng ta sẽ có tác dụng lớn đối với các em. Ví dụ: Em Khanh là một học sinh rất tự ti, ngại tiếp xúc với thầy cô, bạn bè, thường có lối sống khép mình kèm với đó là những suy nghĩ tiêu cực trong cuộc sống hàng ngày. Khi GVCN tôi tìm hiểu mới biết được bố mẹ li hôn, ở với ông bà nên thiếu sự quan tâm của bố mẹ nên thường muốn tạo sự chú ý bằng những việc làm thiếu chuẩn mực đạo đức để nhận được sự quan tâm từ mọi người xung quanh. Đối với đối tượng học sinh này tôi thường xuyên quan tâm tới các em bằng những lời hỏi thăm, động viên. Đối với mỗi việc làm đúng hoặc câu trả lời đúng tôi thường khích lệ và tuyên dương đồng thời thể hiện niềm tin của mình với em. Từ những việc làm nhỏ đó em đã mở lòng chia sẻ về những vấn đề mà em gặp phải. Sau một thời gian tôi thấy em dần tiến bộ hơn, học tập sôi nổi hơn. Khi dùng phương pháp này tôi luôn đặt mình vào vị trí của học trò để lắng nghe và để thấu hiểu. Bởi có những hành vi về đạo đức chúng ta cho là sai trái, chưa đúng thì đối với chủ quan cá nhân của học trò lại nghĩ rằng: Mình không sai. Vì vậy cảm hóa để các em trở thành người tốt mới là điều mà giáo viên nên làm. Bên cạnh đó, tôi luôn thể hiện sự tôn trọng từng học sinh. Khi các em được tôn trọng, các em sẽ cảm thấy tin tưởng người giáo viên chủ nhiệm hơn, đồng thời, các em mới có niềm tin để tiến bộ hơn. Tôn trọng học trò bằng cách: - Chú ý lắng nghe lời học sinh nói. Hãy để học sinh chia sẻ mọi điều trước khi ta phán xét điều gì. Lắng nghe bằng 2 tai, không lắng nghe phiến diện một chiều để áp đặt. - Chú ý ứng xử công bằng trong mọi vấn đề: Công bằng trong lời nói, công bằng cả trong hành động. Trong ngăn bàn của giáo viên, tôi có sử dụng 1 chiếc hộp nhỏ. Trên chiếc hộp đó có 1 lỗ nhỏ mà các học trò có thể để lại những mong muốn của mình về giáo viên giảng dạy, giáo viên chủ nhiệm, tôi sẽ mở hòm thư vào thứ 7 hàng tuần để biết được những mong muốn của các em. Tôi luôn nói với học sinh về sự tin tưởng của mình trước những thay đổi, biến chuyển trong đạo đức, nhân cách của các em. Tin tưởng bằng lời nói chưa đủ, tôi thể hiện niềm tin trong hành động. Ví như: Trong đợt làm báo tường chào mừng kỉ niệm ngày nhà giáo Việt Nam. Em Tiến là học sinh có lực học trung bình nhưng vẽ rất đẹp, em rất nhát và rụt rè và không hòa đồng cùng các bạn. Tôi giao cho em phụ trách làm báo tường. Lúc đầu em không dám tham gia nhưng sau khi tôi động viên và giao phó trách
  10. 10 nhiệm cho em vì tập thể lớp, em đã thể hiện được năng khiếu của mình. Kết quả báo tường lớp tôi được giải nhì, sau lần đó các bạn trong lớp đã có cái nhìn khác về Tiến và em cũng đã mạnh dạn hơn, hòa đồng cùng các bạn trong lớp. Với cách giáo dục này, tôi nhận thấy, tình cảm giữa giáo viên với học sinh, học sinh với học sinh ngày càng gắn bó và khăng khít hơn. Học sinh khi nói ra điều muốn nói, được thể năng khiếu của các em nghĩa là các em rất mong muốn và có ý thức xây dựng tập thể lớp tiến bộ hơn. 2.3. Giáo dục đạo đức cho học sinh bằng cách phối kết hợp chặt chẽ các yếu tố giáo dục: Gia đình – Nhà trường – Xã hội 2.3.1. Phối hợp với tổ chức Đội thiếu niên trong trường Tổ chức này có ban chỉ huy liên chi đội, có đội sao đỏ thường xuyên theo dõi các hoạt động của toàn trường và từng lớp học, có một tổng phụ trách Đội chuyên trách tổ chức các hoạt động Đội và kịp thời xử lý những vi phạm của HS, hơn thế nữa có phong trào thi đua làm đòn bẩy nên thường các biện pháp luôn đạt hiệu quả giáo dục cao. Một số GVCN lớp ngại trong việc khai báo những sai phạm của HS lớp mình vì sợ ảnh hưởng đến kết quả thi đua của lớp, nhưng với tôi việc kết hợp với tổ chức Đội là một biện pháp giáo dục có hiệu quả rất cao trong công tác giáo dục hạnh kiểm HS. - Đối với đội sao đỏ: tôi yêu cầu các em ghi lại tên của tất cả những em vi phạm và thông báo trước lớp sau mỗi buổi theo dõi. Có như vậy thì tôi mới kịp thời có được thông tin và xử lý dứt điểm những vi phạm đựơc. - Đối với các em trong ban chỉ huy liên chi đội - đội phát thanh măng non: Tôi thường xuyên cung cấp những cá nhân điển hình của lớp đưa vào các bản tin hằng ngày để tuyên dương khen ngợi, khích lệ tinh thần các em. - Với tổng phụ trách Đội: tôi thường xuyên kết hợp các biện pháp giáo dục theo kiểu vừa đấm vừa xoa: đối với những đối tượng học sinh cá biệt tôi sử dụng biện pháp cứng rắn bên cạnh đó tôi nhờ tổng phụ trách đội động viên, những em tôi dùng biện pháp mềm mỏng thuyết phục tôi lại nhờ TPT có biện pháp cứng rắn hơn, cũng có lúc kết hợp cả hai cùng chung biện pháp. 2.3.2. Phối hợp với giáo viên bộ môn Cùng với giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn là người trực tiếp tiếp xúc, giảng dạy học sinh của lớp. Vì vậy, việc phối hợp với giáo viên bộ môn để nắm được tình hình học tập của từng học sinh để đưa ra phương pháp giáo dục hợp lí là vô cùng cần thiết và quan trọng. Để phối hợp tốt với giáo viên bộ môn trong việc giáo dục học sinh, người giáo viên chủ nhiệm lớp cần thực hiện tốt những điều sau:
  11. 11 - Thứ nhất, cần nắm được danh sách giáo viên bộ môn giảng dạy lớp mình về môn dạy, họ tên, số điện thoại, nơi ở để khi cần có thể liên lạc được ngay với giáo viên bộ môn đó. - Thứ hai, cần thường xuyên, chủ động gặp gỡ giáo viên của từng bộ môn để nắm về tình hình học tập của từng học sinh và tình hình học tập chung của lớp để có những điều chỉnh phương pháp giáo dục hợp lí. - Thứ ba, cần lắng nghe những ý kiến nhận xét, đóng góp của giáo viên bộ môn về biện pháp giáo dục của mình và về tình hình học tập của học sinh lớp mình. Khi thấy cần thiết, có thể góp ý cho giáo viên bộ môn những điều chỉnh hợp lí từ những phản ánh của học sinh và phụ huynh. 2.3.3. Phối hợp với hội cha mẹ học sinh GVCN cũng cần phối hợp với hội cha mẹ học sinh của lớp, của trường để vận động các em HS có ý định bỏ học tiếp tục đi học. Cũng có thể vận động các phụ huynh có con em trong diện này quan tâm nhiều hơn đến con mình đồng thời hội cha mẹ học sinh cũng có thể giúp chúng ta trong việc thu nhận những thông tin mới về các em để chúng ta có biện pháp kết hợp giáo dục tốt hơn. Ví dụ: Trong lớp 7B tôi có em Phan Đình Hoàng Sau khi chuyển từ lớp 7A sang lớp tôi được 3 buổi thì em không đi học nữa và nghỉ, sau 1 tuần thông tin qua bạn bè và trao đổi với phụ huynh thì biết được em không muốn đi học nữa, muốn bỏ học. Gia đình và người thân khuyên nhủ nhưng em không nghe thậm chí nhiều lần em cáu gắt và khùng. Tôi đã tìm vào nhà gặp và hỏi thăm em. Em nói “em muốn nghỉ học ở nhà’’. Khi nói chuyện tôi hỏi thăm về công việc hàng ngày em làm ở nhà là gì, sau đó tôi ngồi kể chuyện học trên lớp và trên trường, đồng thời kể về các phong trào, cuộc thi nhà trường phát động cho lớp. Sau đó tôi phân tích cho em thấy khi đi học em được gì và nghỉ học bây giờ em mất gì, thiệt cái gì và hậu quả khi em chỉ ở nhà xem ti vi và điện thoại không đi học sẽ như thế nào. Sau buổi hôm đó cùng với sự khuyên bảo của gia đình, đầu tuần tôi thấy em đi học và đi được 2 buổi em lại nghỉ. Tôi điện và hỏi em thì biết em muốn đi học nhưng giờ em ngại vì nghỉ 2 tuần rồi kiến thức trống đến lớp chưa theo kịp bạn bè. Tôi lại đến nhà động viên em lần nữa kể từ hôm đó em đi học đều hơn. 2.4. Chú ý tới việc giáo dục đạo đức cho những học sinh đặc biệt Những học sinh đặc biệt thường tác động, ảnh hưởng rất nhiều tới quá trình giáo dục đạo đức những học sinh khác. Vì vậy, cần biết cách cảm hóa những học sinh này thì hiệu quả giáo dục đạo đức mới cao. Vậy làm cách nào để cảm hóa được học sinh đặc biệt?
  12. 12 2.4.1. Phân nhóm đối tượng học sinh đặc biệt trong lớp Trong quá trình công tác và giữ vai trò giáo viên chủ nhiệm tôi nhận thấy học sinh đặc biệt có thể chia làm 03 nhóm chính như sau: - Nhóm 1: Học sinh chưa ngoan là những học sinh nghịch, thường xuyên gây gổ đánh nhau, lười học, không chấp hành nội qui của nhà trường, thêm vào đó nhóm học sinh này còn thường xuyên rủ rê những học sinh khác trong lớp vào những việc làm vi phạm của mình. Đối tượng ở nhóm học sinh này thường là những học sinh vừa có ý thức kỉ luật chưa tốt và kết quả học tập cũng không cao. - Nhóm 2: Học sinh ngoan nhưng tự ti, ngại tiếp xúc với thầy cô, bạn bè. Ở nhóm học sinh này hầu hết các em có kết quả học tập từ Khá trở lên nhưng các em do tự ti, ngại tiếp xúc với mọi người nên thường có lối sống khép mình kèm với đó là những suy nghĩ tiêu cực trong cuộc sống hàng ngày. -Nhóm 3: Học sinh khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn. 2.4.2. Thực hiện giải pháp cụ thể đối với từng nhóm đối tượng Ở nội dung này tôi vận dụng kết hợp các giải pháp ở trên với một số giải pháp đặc biệt cho từng nhóm đối tượng như sau: 2.4.2.1. Đối với đối tượng học sinh nhóm 1: Tôi nhận thấy bản thân các em là những học sinh năng động, nhanh nhẹn nhưng vì những lí do cá nhân nên các em có những hành động việc làm chưa phù hợp với chuẩn mực đạo đức của học sinh, vi phạm nội qui nhà trường, có những lời nói việc làm chưa đúng với thầy cô, cha mẹ. Ở nhóm đối tượng này tôi áp dụng hình thức sau và đạt được những hiệu quả nhất định. * Giao “nhiệm vụ” Với những học sinh ở nhóm này để các em có thể tự khẳng định bản thân đối với các bạn trong lớp và tạo được những dấu ấn để cha mẹ nhìn nhận lại con mình. Thường ở lứa tuổi này trong quan hệ với thầy cô giáo các em thường có biểu hiện bao che cho nhau, nhất là những khi đề cập tới các đối tượng học sinh cá biệt, mặc dù biết việc làm của bạn là sai, tuy vậy khi hỏi đến phần lớn các em đều trả lời một câu chung nhất (không biết). Đối với những em có quan hệ gần gũi với HS cá biệt, cũng có thể các em ngại không dám nói ra sự thật vì sợ sự đe dọa của các bạn... Về vấn đề này GVCN cần khéo léo trong cách điều tra, có thể là điều tra bằng cách giao nhiệm vụ theo dõi tìm hiểu cho ban cán sự lớp hoặc một đối tượng HS
  13. 13 đáng tin cậy nhất nào đó và sẽ trao đổi với các em bằng cách bảo mật thông tin. Thường thì những em này sẽ cung cấp cho chúng ta nguồn tin chính xác nhất. Sau khi nắm được thông tin, phân tích tình hình, tôi hướng dẫn các em gần gũi và giúp đỡ bạn, nên tạo được quan hệ tốt và nhất là tạo cho những em cá biệt có niềm tin với mình. Phải nói rằng trong quan hệ bạn bè các em sẽ bộc lộ rõ cá tính không e ngại. Tôi thường xuyên giữ mối quan hệ với các em này tìm hiểu những khó khăn khi phải thuyết phục HS cá biệt để tháo gỡ khó khăn cho các em, thường xuyên cung cấp biện pháp xử lý kịp thời những biến động của các đối tượng và động viên các em, tạo cho các em có niềm tin thuyết phục, giúp đỡ học sinh cá biệt tiến bộ. Ví dụ: Em Vũ là học sinh thường xuyên nói chuyện riêng, nói tự do trong lớp, khi ban cán sự lớp phê bình là em hăm dọa đánh bạn. Để vừa ngăn chặn được sự mất đoàn kết trong lớp đồng thời xây dựng nề nếp tiết học tốt tôi phân em làm tổ trưởng tổ 1. Giao nhiệm vụ theo dõi các bạn trong tổ, đồng thời trước lớp tôi quy định những em cán sự lớp phải luôn gương mẫu đi đầu trong mọi hoạt động, nếu vi phạm thì hình thức kỷ luật sẽ nặng hơn. Khi nhận chức tổ trưởng Vũ rất thích, tuần đầu tiên Vũ có tiến bộ nhưng vẫn còn một vài lần bị phê bình,cuối tuần nhận xét tình hình chung của lớp. Tôi vừa phê bình nhưng lại động viên em nhiều hơn.Về sau Vũ đã ý thức được trách nhiệm của mình và không còn vô kỷ luật như trước nữa. * Giáo dục bằng tập thể Đối với những học sinh thích gây rối tập thể, nghịch ngợm, tôi dùng cách đẩy mạnh các hoạt động của lớp. Để các em thấy được những việc làm của mình không có tác dụng gì khi cả lớp đều có chung một sự quyết tâm nỗ lực vươn lên, làm cho các em bị tách ra khỏi tập thể, không thể gây rối tập thể được và vô hiệu hoá những hành động nghịch ngợm của các em. Không gây rối được tập thể lại bị tách rời khỏi tập thể, các em tự khắc thấy mình như bị hụt hẫng, xấu hỗ. Từ đó chính các em có mong muốn được sống chung trong một tập thể đoàn kết. Khi những học sinh này thấy được những lỗi lầm của mình, GVCN lớp cần động viên HS trong lớp gần gũi, khích lệ để các em hoà nhập với tập thể. * Cùng phối hợp giáo dục Đặc biệt đối với nhóm đối tượng này tôi kết hợp chặt chẽ với giáo viên bộ môn, cán bộ lớp và gia đình để thống nhất được nội dung giáo dục dành cho các em. Học sinh nhóm đối tượng này cần nhận được sự tin tưởng ở mọi người dành cho mình vì bản thân các em luôn bị ám ảnh rằng mọi người không yêu thương, không tin tưởng mình do mình chưa ngoan. Tôi thường xuyên động viên các em bằng quan điểm “Các em chưa ngoan chứ không phải không ngoan” để các em hiểu
  14. 14 rằng mình không bị tập thể cô lập, gia đình ghét bỏ và từ đó thay đổi ý thức đạo đức, kỉ luật. 2.4.2.2. Đối với đối tượng học sinh nhóm 2 Ở nhóm đối tượng này tôi thường “nhờ” các em giúp đỡ mình trong những công việc mang tính tỉ mỉ của lớp để từ đó các em thể hiện mình, tiếp xúc thường xuyên với cô để trao đổi công việc qua đó các em mạnh dạn hơn trong giao tiếp. Các em nhận thấy được thế mạnh của bản thân. VD: Xây dựng chương trình kỉ niệm ngày “Phụ nữ Việt Nam 20/10” Tôi định hướng để cán bộ lớp xây dựng chương trình, phân công tập trung vào hai nhóm đối tượng đặc biệt để các bạn được làm việc, được thể hiện bản thân. - Nhóm 1: Văn nghệ, tiểu phẩm nói về mẹ và bà (qua đấy các em hiểu hơn về tình cảm gia đình, về tình yêu thương quan tâm của cha mẹ với mình) - Nhóm 2: Chuẩn bị nguyên liệu làm hoa làm hoa giấy, bưu thiếp tặng mẹ, tặng bà. Qua hoạt động này tôi nhận thấy học sinh trong lớp đặc biệt là hai nhóm đối tượng đặc biệt có nhưng thay đổi rõ rệt trong ý thức kỉ luật và học tập. - Nhóm 1: Các em đã biết giúp đỡ bà, mẹ trong công việc gia đình, quan tâm tới mẹ hơn. - Nhóm 2: Nhận thấy các bạn trong lớp hòa đồng, mình cũng có những điểm mạnh mà bản thân các em lúc trước chưa nhận thấy. Các bạn khác trong lớp ghi nhận sự tiến bộ của hai nhóm đối tượng đặc biệt này từ đó thay đối cách nhìn và hỗ trợ các bạn trong học tập và cuộc sống. Học sinh làm quà tặng bà, tặng mẹ
  15. 15 2.4.2.3. Đối với đối tượng học sinh nhóm 3 Giáo viên chủ nhiệm cần dành tình cảm ưu ái hơn. Chú ý cách bố trí chỗ ngồi phù hợp, cách đặt câu hỏi gợi mở khi tìm hiểu bài và sự đòi hỏi yêu cầu về nội dung bài học sẽ khác hơn so với học sinh bình thường. Giáo viên chủ nhiệm cần phải kiên trì, bền bỉ, bám đuổi các em để động viên, khích lệ các em để giúp đỡ các em hòa nhập với cộng đồng. Bên cạnh đó tôi cho lớp tôi vẽ một cây xanh hàng tuần tôi và cả lớp sẽ cùng lựa chọn 1 chủ đề ở trên đó để cùng trao đổi Từ đó học sinh có những định hướng nhận thức đúng đắn để hoàn thiện phẩm chất đạo đức của bản thân mình. Sau một thời gian áp dụng chặt chẽ và nghiêm túc giải pháp này tôi có tiến hành làm làm phiếu khảo sát về những tiến bộ trong quá trình giáo dục đạo đức của học sinh (gửi cho giáo viên bộ môn của lớp và phụ huynh học sinh). Qua phản hồi từ phiếu khảo sát đều cho thấy giải pháp đạt hiệu quả cao. Phiếu khảo sát về sự biến chuyển trong quá trình giáo dục đạo đức của học sinh. Thái độ Rất Tốt Bình Không tốt thường tốt 1. Học sinh có khả năng tự lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm.
  16. 16 2. Học sinh lễ phép với thầy cô và cha mẹ. 3. Học sinh tôn trọng bạn bè. 4. Học sinh hòa đồng, biết chia sẻ với các bạn công việc của lớp. III. KẾT QUẢ THỰC HIỆN 1. Hiệu quả chung 1.1. Với giáo viên chủ nhiệm. Bản thân tôi đã đúc rút ra nhiều kinh nghiệm trong quá trình giáo dục đạo đức học sinh đó là: Muốn giáo dục đạo đức cho học trò, bạn cần là một người giáo viên thực sự nhiệt huyết, yêu nghề, yêu trò. Nhiều giải pháp áp dụng giáo dục học sinh thực sự đem lại hiệu quả cao. 1.2. Với người học. Bản thân học sinh lớp chủ nhiệm của tôi đã tự giác, tự lập, tự chủ hơn trong quá trình học tập và rèn luyện, tu dưỡng đạo đức. Các em biết quan tâm, sẻ chia, đoàn kết và yêu thương nhau. Các em lễ phép với thầy cô, tôn trọng người lớn tuổi, biết chào hỏi khi có khách lạ tới trường, biết hỗ trợ, giúp đỡ các bạn. Đối tượng học sinh đặc biệt có nhiều thay đổi mang tính tích cực. 1.3. Với các bậc cha mẹ học sinh. Hiểu và phối hợp chặt chẽ với giáo viên chủ nhiệm trong công tác giáo dục đạo đức của các em. Cách thức giáo dục đạo đức của mỗi phụ huynh cũng có sự biến chuyển theo chiều hướng tích cực, phù hợp với xu thế giáo dục hiện nay. 2. Hiệu quả cụ thể đạt được của lớp Bảng xếp loại học lực và hạnh kiểm học sinh lớp 7B trước tác động (Kết quả học kì I năm học 2021 - 2022) Tổng số Học lực Hạnh kiểm HS Giỏi Khá TB Y Tốt Khá TB Y 32 0 7 18 7 23 8 1 0
  17. 17 Bảng xếp loại học lực và hạnh kiểm học sinh lớp 7B sau tác động (Kết quả kì II năm học 2021 - 2022) Tổng số Học lực Hạnh kiểm HS Giỏi Khá TB Y Tốt Khá TB Y 32 0 11 16 5 28 4 0 0 Bảng kết quả thi đua của lớp chủ nhiệm năm học 2021 – 2022 Các hoạt động Thành tích Năm học 2021 - 2022 Học kì I Thi đua trong công tác Đội Chi đội Tiến tiến Thi đua chào mừng 20/11 Giải nhì báo tạp san Xếp loại thi đua thực hiện nề nếp Khá Học kì II Thi đua trong công tác Đội Chi đội TTXS Xếp loại thi đua thực hiện nề nếp Tốt Năm học 2022 - 2023 Nửa học kì I Thi đua công tác Đội Chi đội tiên tiến Thi đua chào mừng 20/11 Giải nhì văn nghệ Giải nhì báo tường Xếp loại thi đua thực hiện nề nếp Tốt IV. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 1. Kết luận Điều hạnh phúc nhất của tôi đó là: Thay đổi được phần nào tính cách, cách ứng xử của các em để cùng xây dựng và tạo lập mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa giáo viên và học sinh, đồng thời góp phần xây dựng tập thể lớp đoàn kết, xây dựng một môi trường học tập thực sự hiệu quả. 2. Kiến nghị, đề xuất 2.1. Đối với nhà trường Các giáo viên tham gia giảng dạy bộ môn kết hợp cùng giáo viên chủ nhiệm tham gia giáo dục các em trong tiết học, môn học của mình. Vấn đề này cần được thực hiện đồng loạt và theo hệ thống.
  18. 18 Tổ chức Đoàn Đội cần có sự phối kết hợp chặt chẽ với giáo viên chủ nhiệm trong công tác giáo dục đạo đức học sinh. Ban giám hiệu và các tổ chuyên môn, tổ chủ nhiệm cần quan tâm sát sao hơn nữa và tổ chức các buổi chuyên đề bàn về một số vấn đề trong công tác chủ nhiệm để xây dựng và đúc rút ra những giải pháp thực sự hiệu quả. 2.2. Đối với phụ huynh học sinh Cần sát sao, quan tâm con hơn và có những cách thức giáo dục đạo đức hiệu quả hơn. Phối kết hợp chặt chẽ với giáo viên chủ nhiệm. Hồng Phương, ngày tháng 11 năm 2022 Hồng Phương, ngày 22 tháng 11 năm 2022 Thủ trưởng đơn vị Người viết Phan Thị Minh Tuyết