Sang kiến kinh nghiệm "1 Số biện pháp dạy kí hiệu ngôn ngữ cho học sinh khiếm thính học hòa nhập" - Nguyễn Hải Hưng

doc 16 trang hanhan 05/11/2025 1140
Bạn đang xem tài liệu "Sang kiến kinh nghiệm "1 Số biện pháp dạy kí hiệu ngôn ngữ cho học sinh khiếm thính học hòa nhập" - Nguyễn Hải Hưng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • docsang_kien_kinh_nghiem_1_so_bien_phap_day_ki_hieu_ngon_ngu_ch.doc

Nội dung tài liệu: Sang kiến kinh nghiệm "1 Số biện pháp dạy kí hiệu ngôn ngữ cho học sinh khiếm thính học hòa nhập" - Nguyễn Hải Hưng

  1. PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH BA TRƯỜNG TIỂU HỌC VÕ LAO SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY KÍ HIỆU NGÔN NGỮ CHO HỌC SINH KHIẾM THÍNH HỌC HÒA NHẬP Người thực hiện: NGUYỄN HẢI HƯNG Chức vụ: Giáo viên - Tổ 1-2-3. Sáng kiến kinh nghiệm thuộc lĩnh vực: Cấp trường Năm 2014 1
  2. MỤC LỤC Nội dung Trang PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ. 1 PHẦN II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ. 4 I. THỰC TRẠNG QUA ĐIỀU TRA Ở LỚP 2A TRƯỜNG TIỂU 4 HỌC VÕ LAO - THANH BA - PHÚ THỌ NĂM HỌC 2012-2013. 1. Điều tra hoàn cảnh gia đình học sinh. 4 2. Điều tra về chất lượng giáo dục. 5 3. Điều tra về khả năng giao tiếp bằng lời nói 5 4. Nguyên nhân của thực trạng . 6 II. CÁC BIỆN PHÁP ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ. 6 1. Nắm vững nội dung chương trình, mức độ yêu với từng đối 6 tượng học sinh. 2. Vận dung linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy 6 học. 3. Dạy các dạng bài cụ thể. 9 4. Tạo mối quan hệ thầy- trò bạn bè trong lớp. 13 5. Phối hợp với các đoàn thể và cha mẹ học sinh 14 III. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM. 15 PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ. 17 1. Kết luận. 17 2. Kiến nghị - Đề xuất. 18 2
  3. PHẦN I. ĐẶT VẤN ĐỀ Trẻ Khiếm thính là một trong những đối tượng khó khăn nhất trong giáo dục hòa nhập do khiếm khuyết về thính giác, trẻ rất khó khăn trong giao tiếp với mọi người xung quanh và phát triển nhận thức của bản thân. Nếu để trẻ có thể giao tiếp bằng ngôn ngữ nói thì việc thiết yếu hàng đầu là phải cung cấp cho trẻ máy trợ thính phù hợp, trẻ được can thiệp sớm từ nhỏ, có môi trường học tập và luyện nghe nói tốt. Thế nhưng không phải gia đình nào có trẻ Khiếm thính cũng mua được máy trợ thính tốt và tạo điều kiện cho con nghe nói tốt được. Nhiều người cho rằng không thể dạy học sinh Khiếm thính nói được. Nhưng trong thực tế, học sinh Khiếm thính có thể học nói và giao tiếp với mọi người bằng tiếng nói chung qua kí hiệu cử chỉ ngôn ngữ. Tuy nhiên, quá trình dạy học sinh Khiếm thính nói rất khó khăn, phức tạp và phải tiến hành trong một thời gian dài. Hơn nữa dạy nói cho học sinh Khiếm thính cần có những phương pháp phù hợp với những đặc điểm của học sinh. Hiện nay các em Khiếm thính đang theo học tại các Trung tâm dạy trẻ khuyết tật trong cả nước đó là những gia đình có điều kiện. Còn những gia đình khó khăn về kinh tế thì học sinh Khiếm thính lại phải học hòa nhập trong các trường Tiểu học. Có em được sinh ra bởi cha mẹ bình thường nên ngôn ngữ kí hiệu không phải là ngôn ngữ mẹ đẻ của các bậc phụ huynh, do không có kinh nghiệm nên cha mẹ rất lúng túng khi nuôi dạy con bị mắc bệnh Khiếm thính, phần lớn là không hiểu con cái mình muốn gì, suy nghĩ như thế nào. Một số ít còn lại được sinh ra bởi cha mẹ câm điếc thì ngôn ngữ kí hiệu là tiếng mẹ đẻ của trẻ. Việc dạy kí hiệu ngôn ngữ làm sao cho học sinh Khiếm thính tiếp thu được kí hiệu, cấu trúc ngữ pháp của ngôn ngữ kí hiệu và cách ứng dụng ngôn ngữ kí hiệu vào cuộc sống là vấn đề hiện nay của nhà trường Tiểu học nói riêng và các cơ sở chuyên biệt dạy trẻ khiếm thính nói chung đang gặp phải những khó khăn nhất định. 3
  4. Trên thực tế, giáo viên dạy ở Tiểu học không phải giáo viên nào cũng dạy được học sinh Khiếm thính học hòa nhập. Bởi vì khi học sinh lên lớp trên lại học cô giáo khác nên các cử chỉ điệu bộ, kí hiệu ngôn ngữ lại mới hoàn toàn. Bản thân giáo viên đó không được đi tập huấn. Nếu giáo viên lớp trên không hiểu kí hiệu ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ của học sinh Khiếm thính, học sinh không những không tiếp thu được bài, không giao tiếp được với cô giáo, các bạn trong lớp sẽ dẫn đến chán nản không muốn đi học. Bản thân tôi đã tham gia dạy học sinh Khiếm thính học hòa nhập. Có năm tôi dạy học sinh Khiếm thính học hòa nhập rất nhẹ nhàng vì giáo viên dạy lớp dưới đã dạy cho học sinh thành thạo kí hiệu ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ, tôi chỉ việc rèn, sáng tạo thêm theo lớp của của mình. Nhưng cũng có năm, tôi rất mất nhiều thời gian phải dạy lại những kí hiệu cử chỉ điệu bộ cho học sinh Khiếm thính, kĩ năng sống, kĩ năng giao tiếp qua kí hiệu. Thường xuyên phải động viên học sinh đến trường. Điều đó cho thấy kinh nghiệm dạy học sinh Khiếm thính học hòa nhập của một số giáo viên còn hạn chế, sự học hỏi đồng nghiệp, nghiên cứu tài liệu còn ít. Mục đích sáng kiến kinh nghiệm đưa ra nhằm: Nghiên cứu cơ sở lí luận trong giảng dạy và giáo dục học sinh Khiếm thính học hòa nhập; thực trạng trong những năm học gần đây; phân tích nguyên nhân cơ bản làm hạn chế đến chất lượng học tậpcủa học sinh Khiếm thính học hòa nhập sẽ dẫn đến chất lượng của cả lớp giảm sút. Từ đó, giáo viên đề ra biện pháp, kinh nghiệm hiệu quả giảng dạy và giáo dục học sinh Khiếm thính học hòa nhập, giúp học sinh hình thành và phát triển những tư tưởng, tình cảm tốt đẹp tạo sự gần gũi, yêu thương, thân thiện. Từ những mâu thuẫn giữa thực trạng với yêu cầu mới, đòi hỏi phải được giải quyết. Hầu hết các giáo viên dạy lớp có học sinh Khiếm thính học hòa nhập, ngoài mục tiêu chung cho học sinh bình thường còn phải có kế hoạch, mục tiêu riêng cho học sinh Khiếm thính. Những kế hoạch, biện pháp giáo viên chủ nhiệm đưa ra, các giáo viên dạy phân môn cũng phải bám sát vào kế hoạch đó để thực hiện mục tiêu theo phân môn mình dạy. Để tổ chức hình thức dạy học linh hoạt, đạt hiệu quả cao. 4
  5. Những năm gần đây, ngành giáo dục đang tập trung đổi mới phương pháp dạy học nên công tác giáo dục học sinh hòa nhập đã được quan tâm có những đòi hỏi cao hơn. Qua trao đổi thảo luận cùng đồng nghiệp, tự nghiên cứu tài liệu, xem băng dạy mẫu, được sự chỉ đạo sâu sát của nhà trường, bản thân mỗi giáo viên càng ý thức sâu sắc hơn tầm quan trọng giáo dục học sinh học hòa nhập là nhiệm vụ cao cả của mỗi giáo viên. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện vẫn còn một số giáo viên thiếu kinh nghiệm hoặc sử dụng phương pháp giáo dục chưa linh hoạt, quá trình thực hiện thiếu liên tục và thiếu sự nhiệt tình nên chất lượng giáo dục học sinh Khiếm thính học hòa nhập chưa đạt hiệu quả cao. Gia đình học sinh chủ yếu làm nông nghiệp nên kinh tế gia đình còn gặp khó khăn. Bản thân phụ huynh không có kinh nghiệm dạy con em mình bị Khiếm Thính nên giao phó hết trách nhiệm cho nhà trường. Xuất phát từ thực trạng ở các trường Tiểu học nói chung, thực trạng ở lớp 2A nơi tôi công tác nói riêng, từ mục tiêu giáo dục tôi đã tìm hiểu và nghiên cứu “Một số biện pháp dạy kí hiệu ngôn ngữ cho hoc sinh Khiếm thính học hòa nhập ở lớp 2”. PHẦN II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ. I. THỰC TRẠNG QUA ĐIỀU TRA Ở LỚP 2A TRƯỜNG TIỂU HỌC VÕ LAO - THANH BA - PHÚ THỌ NĂM HỌC 2012 - 2013. Trường tiểu học Võ Lao có tổng số 10 lớp với 220 học sinh. Riêng lớp 2A có 29 học sinh (trong đó có 1 học sinh Khiếm thính học hòa nhập ) các học sinh ở rải rác 8 khu hành chính, những em ở khu 7, khu 9 có thuận lợi cho việc đi học vì ở gần trường, số còn lại ở khu 1, khu 2, khu 3, nhà cách xa trường tới 3km, 4km điều kiện đi lại khó khăn nhất là những hôm mưa rét. Qua đánh giá của nhà trường và giáo viên chủ nhiệm năm trước, lớp chưa có thành tích gì nổi bật trong phong trào học tập và rèn luyện. Riêng học sinh Khiếm thính học hòa nhập không thành thạo trong kí hiệu ngôn ngữ, chính vì thế mà 5
  6. không nhận thức được trong học tập và giao tiếp. Trước hết người giáo viên phải có kinh nghiệm, nhiệt tình trong công tác giáo dục học sinh Khiếm thính học hòa nhập. Từ đó mới có thể đề ra các biện pháp thích hợp có hiệu quả. Cụ thể, tôi đã tiến hành điều tra về các mặt sau: 1. Điều tra hoàn cảnh gia đình học sinh: Dựa vào nhiều nguồn thông tin: Thông qua giáo viên chủ nhiệm cũ, qua hồ sơ học sinh, qua trò chuyện với học sinh trong các buổi ngoại khóa. Ngoài ra tôi trực tiếp đi thăm gia đình một số học sinh có hoàn cảnh khó khăn, neo đơn. Sau khi điều tra sơ bộ đã nắm được về hoàn cảnh gia đình học sinh trong lớp như sau: - Gia đình kinh tế khá: 8 em - Gia đình kinh tế trung bình: 11 em - Gia đình thuộc hộ nghèo: 7 em - Gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: 3 em Trong số 29 em, có 26 em gia đình làm ruộng, 3 em gia đình công chức. Riêng em học sinh Khiếm thính học hòa nhập kinh tế gia đình ở mức trung bình, bản thân học sinh đó lại khó khăn trong học tập và giao tiếp, bố mẹ lại không có kinh nghiệm trong dạy kí hiệu ngôn ngữ cho con. 2. Điều tra về chất lượng giáo dục: Song song với điều tra hoàn cảnh gia đình, tôi tiến hành điều tra chất lượng học sinh đầu năm: Qua kết quả năm cũ 2012 - 2013 kết quả như sau: * Hạnh kiểm TSHS Thực hiện đầy đủ Chưa thực hiện đầy đủ Ghi chú 29 29 0 0 * Xếp loại loại giáo dục TSHS G K TB Y 29 6 9 14 0 6
  7. 3. Điều tra về khả năng giao tiếp bằng lời nói. Qua điều tra khả năng hiểu và giao tiếp bằng lời của học sinh trong lớp tốt. Riêng có em Hà Bảo Nam là học sinh Khiếm thính học hòa nhập không có khả năng giao tiếp bằng lời, dẫn đến không học tập, giao tiếp với cô giáo và bạn bè được. Sau khi điều tra tôi ghi vào nhật kí riêng như sau: *Nhận xét thực trạng lớp: Tỉ lệ học sinh có hạnh kiểm thực hiện đầy đủ là 100%. Chất lượng giáo dục đại trà chưa cao, tuy học sinh yếu không có, song học sinh xếp loại giáo dục trung bình còn nhiều, tỉ lệ học sinh xếp loại giáo dục giỏi thấp. Trong lớp có một học sinh Khiếm thính học hòa nhâp không muốn đến lớp vì khả năng kí hiệu ngôn ngữ và cử chỉ điệu bộ còn chậm, nên em khó khăn trong học tập và giao tiếp. Không hiểu bạn và thầy cô nói gì, làm gì? 4. Nguyên nhân của thực trạng trên: Do lớp học hòa nhập học sinh quá đông nên thời gian giáo viên dành cho học sinh Khiếm thính trong giờ học ít, kinh nghiệm dạy học sinh Khiếm thính học hòa nhập còn thiếu, học sinh lại nghỉ thường xuyên. Giáo viên dạy bộ môn chưa hiểu hết các kí hiệu ngôn ngữ khi dạy học sinh Khiếm thính học hòa nhập. Từ đó dẫn đến mục tiêu giáo dục học sinh Khiếm thính học hòa nhập không đạt. Do bố mẹ là người bình thường không có kinh nghiệm dạy kí hiệu ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ cho con. Các bạn trong lớp cũng không giao tiếp được vì không hiểu hết kí hiệu ngôn ngữ của bạn. II. CÁC BIỆN PHÁP ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ. Xuất phát từ thực trạng cùng với những nguyên nhân làm hạn chế đến hiệu quả trong công tác giáo dục học sinh Khiếm thính học hòa nhập, tôi mạnh dạn đưa ra một số biện pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác giáo dục học sinh Khiếm thính ở trường Tiểu học như sau. 7
  8. 1. Nắm vững nội dung chương trình, mức độ yêu cầu với từng đối tượng học sinh. Đây là lớp học hòa nhập không có sách giáo khoa cụ thể dành cho học sinh khiếm thính rèn luyện kĩ năng học và sử dụng kí hiệu ngôn ngữ. Trước tiên chính giáo viên phải xác định và nắm rõ mục tiêu chính của bài học theo chủ đề là gì? Mức độ tiếp thu của từng em như thế nào? Chính chủ đề là điểm tựa để học sinh nắm được các kí hiệu có liên quan với nhau, không đi quá xa chủ đề. Xác định từng đối tượng học sinh để lập kế hoạch bài giảng cho phù hợp. 2 Vận dụng linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học. 2.1. Rèn kĩ năng vốn kí hiệu ngôn ngữ, kĩ năng giao tiếp bằng hình ảnh. Với mục tiêu hình thành và phát triển vốn kí hiệu, rèn kĩ năng giao tiếp bằng kí hiệu ngôn ngữ cho học sinh Khiếm thính học hòa nhập giáo viên cần vận dụng các phương pháp phát huy tính tích cực chủ động của học sinh; chú ý hơn về thực hành giao tiếp, lặp lại, đóng vai, tận dụng những tình huống cụ thể đang xảy ra để dạy học sinh sử dụng kí hiệu kết hợp với chữ viết và tiếng nói đồng thời biết phối hợp linh hoạt các phương pháp dạy học khác. Sử dụng linh hoạt nhiều hình thức dạy trong một tiết học: làm việc độc lập, làm việc theo nhóm, làm việc chung cả lớp. Ví dụ: dạy trẻ kí hiệu con mèo cần sử dụng bằng kí hiệu, bằng ngôn ngữ nói, bằng chữ viết và tranh ảnh hay vật thật. Cũng như các môn học khác, khi dạy môn kí hiệu ngôn ngữ việc chuẩn bị tranh ảnh, đồ dùng dạy học để cho tiết dạy sinh động hứng thú cũng không kém phần quan trọng. Ngoài ra giáo viên cũng có thể sử dụng powerpoint để giúp cho bài dạy của mình có hiệu quả hơn. Ví dụ: Khi dạy chủ đề thiên nhiên. Giáo viên cho học sinh xem một số tranh ảnh liên quan đến các hiện tượng thiên nhiên mưa, nắng, gió Giáo viên cung cấp Kí hiệu ngôn ngữ thống nhất chung cho học sinh hiểu. Sau đó giáo viên cho học sinh thực hiện lại cá nhân, một học sinh bình thường ngồi 8
  9. cạnh làm lại cho học sinh Khiếm thính kí hiệu vừa học có kèm theo hình ảnh như: “Trời nắng làm động tác trời nắng đội mũ” “Trời mưa làm động tác mưa che ô”. 3. Dạy các dạng bài cụ thể. Giáo viên làm kí hiệu về người thân quen một vài lần, yêu cầu học sinh quan sát tay và khuôn mặt khi giáo viên làm kí hiệu. Giáo viên quan sát phản ứng của học sinh nếu trẻ không phản ứng giáo viên lặp lại từ một vài lần, cho 3 học sinh bình thường lên bảng làm lại, nếu học sinh hiểu giáo viên tuyên dương trẻ kịp thời. Giáo viên khuyến khích và tạo cơ hội cho học sinh sử dụng các kí hiệu càng nhiều càng tốt. 3.1. Dạy bài về tiếng thông qua các chữ cái ngón tay. Chữ cái ngón tay là hệ thống chữ cái được biểu thị bằng các ngón tay, đây là một trong những dạng ngôn ngữ không lời giúp cho học sinh Khiếm thính học ngôn ngữ, đặc biệt hỗ trợ học sinh trong giai đoạn đầu giúp học sinh đọc và viết chính xác Tiếng Việt. Hệ thống từ điển kí hiệu ngôn ngữ của học sinh Khiếm thính hiện nay chưa được đầy đủ và thống nhất, do đó khi học sinh Khiếm thính sử dụng kí hiệu có những tiếng, từ chưa có kí hiệu chung buộc học sinh phải sử dụng chữ cái ngón tay khi giao tiếp. Lưu ý: vị trí của tay khi sử dụng chữ cái ngón tay: Chỉ dùng một tay trái hoặc phải, tay để ngang miệng, lòng bàn tay hướng về phía trước. Chỉ chuyển động các ngón tay và cổ tay, không chuyển động cả cánh tay. Vị trí của các ngón tay phải chính xá 3.2. Dạy dạng bài chỉ hành động, cảm xúc, mô tả Giáo viên quan sát thông tin trẻ muốn thể hiện qua cử chỉ, điệu bộ, nét mặt, tiếp đến giáo viên cung cấp cho trẻ các kí hiệu để trẻ thể hiện. Nhấn mạnh và làm kí hiệu cần học một vài lần, khuyến khích trẻ bắ t chước làm theo. Khi trẻ đã học được kí hiệu giáo viên khuyến khích trẻ sử dụng thường xuyên qua các hoạt động hàng ngày. 9
  10. 3.3. Đối với các câu hỏi đơn giản. Khi giáo viên hỏi một câu hỏi, đầu tiên giáo viên vừa nói lấy 2 quyển vở cho học sinh để học sinh hiểu và áp dụng. Sau đó hỏi “Em có mấy quyển vở? học sinh sẽ ra kí hiệu bằng ngón tay thể hiện có 2 quyển vở. Khuyến khích học sinh giao tiếp với bạn trong lớp và học thêm nhiều kí hiệu mới với những câu hỏi đơn giản bằng cử chỉ điệu bộ như: Bạn làm bài đi. 4. Tạo mối quan hệ thầy - trò, bạn bè trong lớp. 4.1. Xây dựng mối quan hệ bạn bè: Để có tinh thần sẻ chia, hợp tác vui vẻ, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Học sinh bình thường trong lớp sẽ giúp học sinh Khiếm thính học tập và giao tiếp qua kí hiệu ngôn ngữ, cử chỉ điệu bộ. Trong mỗi tiết học, tôi thường xuyên chia nhóm ngẫu nhiên. Tiết học này em học với nhóm bạn này, nhưng tiết sau em lại chung nhóm với bạn khác. Lúc đầu có thể em chưa quen, còn rụt rè, chưa hòa đồng cùng các bạn trong nhóm, tuy ngồi cùng nhóm nhưng em lại tự làm theo ý mình mà không hợp tác với các bạn. Dẫn đến không hoàn thành bài học. Trước tình trạng đó, tôi giao cho các học sinh trong nhóm phải thường xuyên gần gũi, động viên để học sinh Khiếm thính không ngần ngại khi hòa đồng cùng các bạn. Cứ như vậy, dần dần việc hợp tác giữa học sinh Khiếm thính với học sinh trong lớp đã được cải thiện. Để tạo dựng cho học sinh Khiếm thính có mối quan hệ gần gũi với bạn bè, trong các giờ ra chơi tôi thường cho các em tổ chức các chơi trò dân gian, để tạo mối quan hệ thân thiện giữa học sinh Khiếm thính với các bạn trong lớp. 5. Phối hợp với cha mẹ học sinh: 5.1. Với cha mẹ học sinh: Ngay cuộc họp đầu năm khi định hướng được hoạt động, kế hoạch của lớp trong năm học hướng dẫn bầu ra ban chấp hành chi hội gồm 3 thành viên. Cha mẹ học sinh được bàn bạc thống nhất chỉ tiêu kế hoạch hoạt động của lớp và có những giải pháp thực hiện. Giáo viên quy định thông tin hai chiều với cha mẹ học sinh qua sổ liên lạc, điện thoại, gặp gỡ trao đổi ở trường hoặc ở nhà khi cần thiết. Riêng học 10
  11. sinh Khiếm thính tôi thường xuyên trao đổi giữa gia đình em vào cuối các buổi học để thống nhất giữa các kí hiệu ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ ở nhà cũng như ở trường. Để từ đó giáo viên và phụ huynh kết hợp giáo dục, dạy bảo học sinh có hiệu quả hơn. III. HIỆU QUẢ CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM. Qua nghiên cứu lí luận và trải nghiệm thực tế làm công tác giáo dục học sinh Khiếm thính học hòa nhập của lớp 2A trường Tiểu học Võ Lao. Bản thân tôi luôn cố gắng hết sức mình không ngừng học hỏi, nghiên cứu để đưa ra một số biện pháp vận dụng vào giáo dục học sinh Khiếm thính học hòa nhập phù hợp với thực tế nhà trường. Trong quá trình dạy tôi luôn sử dụng ngôn ngữ kí hiệu riêng cho học sinh khiếm thính. Sau 2 năm thực hiện dạy học sinh khiếm thính hòa nhập đã nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của Ban giám hiệu, đồng nghiệp của học sinh và cha mẹ học sinh trong nhà trường và bước đầu đã đạt được kết quả năm học 2013-2014 như sau: * Chất lượng giáo dục. Sau khi đã áp dụng sáng kiến kinh nghiệm. * Hạnh kiểm Thực hiện đầy đủ Chưa thực hiện Năm học TSHS nhiệm vụ HSTH đầy đủ nhiệm vụ HSTH 2013-2014 29 29 0 * Xếp loại giáo dục Năm học TSHS G K TB Y Lên lớp thẳng 2013-2014 29 10 14 5 0 29 So sánh sau 2 năm (Trước và sau khi áp dụng SKKN) Năm học TS Chất lượng giáo dục 11
  12. HS Hạnh kiểm Xếp loại giáo dục Thực hiện đầy đủ G K TB Y 2012-2013 29 29 6 9 14 0 2013-2014 29 29 10 14 5 0 So sánh Tăng 0 0 4 5 0 sau 2 năm Giảm 0 0 9 0 Riêng đối với học sinh Khiếm thính học hòa nhập đã có chuyển biến rõ rệt em đã nhớ thành thạo kí hiệu ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ em đã tham gia vào hoạt động học và giao tiếp thành thạo. Kết quả cuối năm cho thấy chất lượng của học sinh đã được nâng lên rõ rệt. Cụ thể học sinh Khiếm thính học hòa nhập biểu đạt các kí hiệu ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ theo yêu cầu, trả lời câu hỏi giáo viên đưa ra, khả năng tếp thu bài học tốt hơn, trôi chảy hơn. Kết quả trên đã cho thấy chương trình dạy kí hiệu ngôn ngữ được thiết kế theo từng chủ đề với từng bài học theo hệ thống là dạy chữ cái, từ và câu đơn giản rất phù hợp với học sinh khiếm thính ở Tiểu học khi vốn Tiếng Việt còn hạn chế. Kết thúc năm học học sinh có thể phân tích tiếng, hiểu được nội dung của từ, câu, biết biểu thị cảm xúc sang kí hiệu ngôn ngữ. Học sinh mạnh dạn tự tin hơn không còn rụt rè, nhút nhát trong các giờ học hay các hoạt động ngoài giờ. Qua thực tế giảng dạy tôi nhận thấy: Muốn giúp học sinh học tốt ''kí hiệu ngôn ngữ ''giáo viên phải không ngừng đổi mới phương pháp giảng dạy, tìm những hình thức riêng phù hợp với nội dung từng bài dạy và từng trình độ nhận thức của học sinh, tạo điều kiện cho các em tham gia học tập một cách hứng thú. Hy vọng đây là những biện pháp thiết thực để giáo viên có định hướng khi làm công tác giáo dục học sinh học hòa nhập khi dạy phần kí hiệu ngôn ngữ, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học cho học sinh khiếm thính. PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ. 12
  13. 1. Kết luận: Trong cuộc sống hiện đại có những tác động không nhỏ tới ngành giáo dục, do đó việc giáo dục học sinh khiếm thính học hòa nhập ở trường Tiểu học đặt trên vai của người giáo viên ngày càng nặng nề. Song dù thế nào đi nữa trọng trách giáo dục đào tạo người học, vẫn luôn đòi hỏi mỗi người thầy, người cô tình yêu, sự tâm huyết đối với nghề. Giáo dục Tiểu học là vấn đề chính trị - xã hội quan trọng, có giá trị cơ bản và lâu dài, có tính quyết định đối với cuộc đời cá nhân mỗi người. Vì vậy, người giáo viên chủ nhiệm lớp ở Tiểu học có một vị trí đặc biệt quan trọng. Dạy học sinh Khiếm thính học hòa nhập ở Tiểu học là lao động sáng tạo không ngừng, sự sáng tạo đó đòi hỏi phải toàn diện, sáng tạo trong giảng dạy, trong tổ chức các hoạt động học tập linh hoạt, đặc biệt là trong các biện pháp giáo dục đạo đức và rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh. Luôn tạo sự hòa đồng giữ các học sinh trong lớp, trong khối, trong trường với học sinh Khiếm thính học hòa nhập. Vì vậy chỉ có những giáo viên thực sự tâm huyết với nghề, thực sự thương yêu học sinh của mình thì mới có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ. Những công việc tôi làm đều bắt nguồn từ tinh thần trách nhiệm của một giáo viên đứng lớp, từ tình yêu đối với học trò của mình. Thành công tôi đạt được phần lớn đều do sự nỗ lực của bản thân. Nhưng bên cạnh đó, tôi cũng luôn nhận được sự động viên khích lệ của cán bộ quản lí nhà trường, sự chia sẻ đóng góp từ các giáo viên trong tổ chuyên môn. Qua thực tế nghiên cứu, tôi rút ra một số bài học kinh nghiệm sau: Tìm hiểu để biết được một cách toàn diện, sâu sắc về từng học sinh. Hiểu rõ hoàn cảnh gia đình, đặc điểm tâm lí, tính cách, sở thích, thói quen,... của từng học sinh để có biện pháp giáo dục phù hợp. Chú trọng xây dựng nhóm học tập, tổ học tập, để các em có nhiều thời gian hòa đồng cùng học sinh Khiếm thính một các vui vẻ, thân thiện.Tạo sự động viên 13
  14. khuyến khích thường xuyên học sinh Khiếm thính để bản thân các em có được niềm tin vào thầy cô và bạn bè. Luôn thể hiện cho học sinh thấy tình cảm yêu thương lòng nhân ái, bao dung, đức vị tha của người thầy đối với học sinh. Duy trì phong trào xây dựng “Lớp học thân thiện học sinh tích cực” làm sao để tất cả các em luôn cảm thấy “Mỗi ngày đến trường là một ngày vui”. Phối hợp tốt 3 môi trường: “Nhà trường - gia đình - xã hội” nhất là cha mẹ học sinh; kiên trì vận động cha mẹ học sinh tích cực tham gia vào công tác giáo dục học sinh và công tác xã hội hóa giáo dục. 2. Kiến nghị - Đề xuất: Qua thực tế công tác và một số kết quả thu được bước đầu tôi xin có một vài ý kiến đề xuất với các cấp lãnh đạo như sau: * Với ban giám hiệu nhà trường: Quan tâm hơn nữa tới đội ngũ giáo viên dạy học sinh Khiếm thính học hòa nhập. Tạo điều kiện về thời gian, về cơ sở vật chất để mỗi đồng chí giáo viên có thể làm tốt hơn công việc của mình. * Với lãnh đạo địa phương và gia đình: Có biện pháp vận động cha mẹ học sinh để họ quan tâm hơn nữa tới con em mình. Tạo sự phối hợp liên ngành trong công tác hỗ trợ học sinh Khiếm thính. Tuyên truyền nâng cao nhận thức của gia đình, cộng đồng tránh phân biệt đối xử, kì thị người khuyết tật. Gia đình có trẻ Khiếm thính cần tìm hiểu các tài liệu, tham gia các lớp học kí hiệu ngôn ngữ để giao tiếp và hỗ trợ con em mình phát triển tốt hơn, tránh tình trạng để học sinh Khiếm thính cô đơn ngay chính tại gia đình của mình. * Với PGD&ĐT: Tổ chức tập huấn, cung cấp tài liệu cho giáo viên dạy học sinh Khiếm thính học hòa nhập. Trên đây là: “Một số biện pháp dạy kí hiệu ngôn ngữ cho hoc sinh Khiếm thính học hòa nhập” góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục học sinh Khiếm thính học hòa nhập. Đây chỉ là bài học nhỏ được tổng kết từ thực tiễn trong phạm vi nhà 14
  15. trường. Tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của các đồng nghiệp. Xin chân thành cảm ơn. ĐÁNH GIÁ CỦA HĐKH CẤP TRƯỜNG Võ Lao, tháng 12 năm 2014 Người thực hiện Nguyễn Hải Hưng 15
  16. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. “Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm” “Lê Văn Hồng (chủ biên), Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thắng”. Nhà xuất bản Giáo dục năm 1996. 2. Nhiệm vụ năm học 2012-2013; 2013-2014. 3. Tài liệu Giúp đỡ trẻ điếc- dịch từ nguyên bản tiếng Anh Helping Children WhoAreDeaf - Nhà xuất bản Lao động - Xã hội năm 2006. 4. Chuẩn kiến thức kĩ năng môn kí hiệu ngôn ngữ.- Giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật ở Tiểu học. 5.Tài liệu bồi dưỡng giáo viên - Nhà xuất bản Giáo dục 1. 6. Tạp chí Giáo dục Tiểu học. 7. Quyết định 16/2006/QĐ - BGDĐT ngày 05/5/2006 Ban hành Chương trình giáo dục phổ thông. 8. Quyết định số 14/2007/QĐ-BGDĐT ngày 04/5/2007 quy định về Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học. 9. Quyết định 23/2006/QĐ- BGD&ĐT ngày 22/5/2006 của Bộ trưởng BGD&ĐT Ban hành quy định về Giáo dục hòa nhập dành cho người tàn tật. 10. Thông tư 41/2010/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành điều lệ trường Tiểu học. 11. Thông tư số 32/2011/TT- BGDĐT ngày 08 tháng 8 năm 2011 Ban hành Chương trình bồi dưỡng thường xuyên giáo viên tiểu học. 12. Thông tư 32/2009TT- BGDĐT ngày 27/10/2009 Ban hành Quy định đánh giá và xếp loại học sinh tiểu học. 16